b/ Nhóm ngũ tuần Võ văn Lạc- Trần đình Ái

Nhóm Mục sư Ái được đại diện hội thánh ngũ tuần tại Việt nam ; với chính danh Hội thánh ngũ tuần AG. Sau khi tách khỏi thầy Mai, được sự hỗ trợ của giáo sỹ Cosna ngũ tuần Pháp;  nhóm Mục sư :Bùi thanh Sê, Võ văn Lạc, Phạm phú Ánh, Lý xuân Hòa… chọn ngày 30 tháng 4 năm 1989 để thành lập Hội thánh Ngũ tuần AG Việt nam. Thâm tâm quý vị cũng có lòng tin : muốn biến ngày này thành ngày cách mạng giống thế gian, để lật đổ một vương triều tôn giáo CM&A quá già nua, bảo thủ, đối nghịch sự phát triển của phong trào Thánh linh- tự do trong Thánh linh.

Vời niềm tin năng động như sư tử tơ Giu-đa thức dậy, cùng ơn tiếng mới, ngợi khen thờ phượng nóng cháy , họ kiêng ăn hàng tuần, cầu nguyện thâu đêm, truyền giáo không mệt mỏi. Số người tin, được chữa lành vượt quá sự suy tưởng.

Đặc biệt thời điểm này, Mỹ đã dở bỏ cấm vận. Mỹ- Việt đã được ban giao; các giáo sỹ phương Tây khởi sự đổ bộ vào Việt nam. Chiếc phao niềm tin hy vọng Mỹ quốc- đô-la ngập tràn trong các đại lãnh tụ tư gia. Quyền năng ngũ tuần như cơn lốc, cuốn trôi Tin lành CM&A khô cằn , bảo thủ.  Tin lành quyền năng phục hưng Việt nam- tin lành quyền năng phá vỡ tin lành ru ngủ, tin lành mơ màn; tin lành ngũ tuần năng động mang lại một sinh khí thuộc linh sống động tuyệt vời.

Có ở trong bối cảnh này mới thấy làn sóng Thánh Linh quyền năng  như tiếng gió thổi ào ào quần đảo Ti-mor năm 1966. Thánh linh vận hành quá mạnh mẽ, đụng chạm nhiều tấm lòng khô hạn. Mọi người khóc lóc, ăn năn tan vỡ, yêu thương nhau, đùm bọc nhau như công vụ sứ đồ đoạn 2.

Hầu hết nghèo túng, đi xe đạp, ăn cơm nguội, khoai ngô lót dạ, mong đến giờ thờ phượng. Chính quyền thì gia tăng bắt bớ sợ diễn tiến hòa bình. Đông âu đã sụp đổ, Liên sô thì tan rả; Đảng cọng sản Việt nam như ngàn cân treo trên sợi tóc. Không ai can đảm tin, Đảng cong sản tồn tại cho đến hôm nay.

Càng bắt bớ, càng yêu Chúa; cang làm chứng, không xem tù đày là khổ nạn. Số người tin vượt quá sức tưởng tượng. Thập niên 90 hơn 1 triệu người trở lại với Chúa; đặc biệt các dân tộc ít người vùng cao; từng buông, từng làng bỏ thầy bùa, thầy chú, ăn năn chịu báp-tem… Dấu kỳ phép lạ cũng gần như CVSĐ.

Có thể nói đây là thời kỳ vàn son lớn nhất từ khi Tin lành đến với Việt-nam. Chính lý do đó, các mẫu hội Mỹ quốc, Hàn quốc, Châu âu đã tích cực, mở rộng thị trường tôn giáo sang Việt nam. Mọi tổ chức đều lấy thế mạnh  tài chánh , gây ảnh hưởng. Buôn lậu kinh thánh là một việc làm thích thú cho các giáo sỹ đi du lịch đến Việt nam.

Các đại lãnh tụ tư gia như cơn nắng hạn gặp trận mưa rào, như rồng gặp mây; mưa tiền đô, mưa huấn luyện không dứt: ” vườn hồng mở lối, mời anh bước vào”. Mục sư Mai giống Hồng Kong cho Đại lục. Hầu hết các đoàn thông qua cánh cửa Trần Mai.

Bao nhiêu năm sống trong chế độ áp bức đói nghèo vật chất, khô hạn tâm linh. Giờ thì Dolla đầy tủ; thờ phượng thì tự do trong Thánh linh; không còn hơn.

Có thể nói, trong bối cảnh thập niên 90 ; tiếng mới mang lại một sinh khí thuộc linh quá tuyệt vời, cầu nguyện hát ngợi khen kéo dài thâu đêm. Những bài hát mới, linh khúc ngợi khen – thờ phượng sinh động, nhảy múa vỗ tay thỏa lòng. Mọi người tưởng đây là cơn mưa cuối mùa, chuẩn bị Chúa tái lâm. Số người tin Chúa gia tăng; số người kêu gọi vào công truogn72 thuộc linh cứ gia thêm. Nhiều người bỏ cả công ăn việc làm, nhà cửa quê hương, theo tiếng gọi của các đại gia tôn giáo.

Nhưng, thật đau lòng! Khởi sự thuộc linh, kết thúc  là xác thịt. Khởi sự là quyền năng Thánh linh, kết thúc là quyền lợi lãnh đạo. Khởi sự là hiệp một, kết thúc là hiệp hai, hiệp phụ; phải giải quyết bằnng cả pênanty.

“ Tưởng rằng đầu đường thương xó chợ; ai ngờ xó chợ cũng chẳng thương nhau”.

Hai câu thơ của người Bắc sáng tác vào thập niên 90 , để mỉa mai cảnh những người cùng khổ tưởng rằng đồng khổ sẽ là đồng chí mãi mãi.Nhưng họ quên con người  cũng chỉ là con người xác thịt: “ gian dâm, ô uế, bất bình , bè đảng, tham tiền”! vẫn là bản chất cố hữu. Bao năm nó nằm yên chờ thời.

Thật đúng, các vị Reverend Mục sư của vương triều Ngũ tuần, vội biến thành “Ngủ tháng , rồi thành “Ngủ mê” ; cũng  vì  “cùng xó chợ sao mà không còn thương nhau- cùng những đứa con hoang đàn, sao không tha thứ; không sống chung được trong thân thể Đấng Christ”.  Như một nhà khôi hài báo mộng :

“ Đô-la đến đầu thì bồ câu  bể đầu đến đó”.

Vườn điều bác Hai Ngâu Thủ đức năm nào , giờ thành vườn đá gà; sân chọi trâu ! Các ông trời con đã thành nhạc sỹ bất đắt dĩ, chỉ cần qua đêm học xong hai nốt “Đo- la”  kết thúc thành “đô vật”!.

Chuyện tình Lan và Điệp tái diễn

Ông Hội trưởng Trần đình Ái vốn là tân sinh Ngũ tuần trước 75. Sau 75 Ngũ tuần cũng đã ngủ dài; ông Ai vốn là thầy Bùa chuyên nghiệp ở Thái Lan về. Nghe nói bùa ông tu luyện có khả năng mổ bụng rồi lấp lại.

Ông Ái đã bùa thế nào, mê hồn trận được lãnh đạo CM&A; ông  tranh thủ  được chức truyền đạo chủ tọa tại Hội thánh tin lành Trảng Bom, trong khu Công giáo tỉnh Đồng nai. Bây giờ bom  rãi khắp tứ Trảng Bom lan tới Trảng Bàng, xuống tận sai-gòn, rải thảm đến khắp nơi . Ngũ tuần là hiện tượng thuộc linh bất thường khiến cho Sê-sa mật ăn mất ngủ; còn lãnh đạo CM&A thì mất ngủ mất ăn, sợ mất cả ghế.

Mục sư Trần  đình Ái nghe tin Hội thánh Ngũ tuần Việt nam do các Mục sư : Võ văn Lạc, Bùi thanh Sê, Phạm phú Ánh mới thành lập. Ông chớp lấy thời cơ, với nhãn mác ngũ tuần đã được cầu chứng tại tòa trước 75. Nhất là nối được chủ cũ. Với khả năng lém lỉnh, nói tiếng Anh được; lại được bảo kê Mẫu hội Ngũ tuần Mỹ, ông lại trổ tài  bùa chú. Chức Hội trưởng Ngũ tuần Việt nam đã gọn trong tay ông.

Cờ trong tay, tha hồ phức; quyền trong tay tha hồ nổ. Ông Ái được giáo sỹ Ngũ tuần ưu ái: “ người tình nối lại tình xưa”; phải lên đời thôi. Ông nhìn anh em đồng công bằng nữa con mắt, tha hồ Ngựa phi nước đại. Sao-lơ đã được xức dầu lên Ngôi Hoàng Đế.

 Cuộc sống vật chất ông Ái bổng nhiên Hô-sa-na như một ông Hoàng đời mới ; Nhà lên đời, xe  hơi lên đời; vợ con đổi đời. Đổi tướng đi, đổi cả lòng; nói năng bề trên kẻ cả; ngay bạn đồng lao ông cũng muốn quên. Của người phúc ta….

Trong lúc anh em đồng lao đi truyền giáo thì thiếu thốn, đi xe đạp, ăn khoai mì, bo bo, bị công an bắt bớ khốn khó đủ điều… Cuộc sống của Ngài hội trưởng thù nghịch thập tự giá Chúa; phản cảm với bạn đồng công.

Cái gì đến phải đến. Chúa thực hiện sự công nghĩa; gieo thì phải gặt.

Bão nổi lên rồi từ Bùi Thanh Sê qua Võ văn Lạc, đến nhiều bộ trưởng khác… Hội đồng quân dân cách mạng lâm thời hình thành; bằng mọi giá phải tìm mọi cách lật đổ chế độ quan liêu thối nát của triều đại Trần đình Ái thôi.

Đệ nhất Phó Hội trưởng Bùi thanh Sê, học chiêu Đại tướng Dương văn Minh,ra cáo trạng lật đổ nhà Trần

“ Giấy bất tín nhiệm Mục sư Trần đình Ái”

Cáo trạng được Hội đồng Giáo phẩm AG thông qua. Thế là Ngũ tuần thành đôi ngã chi ly:  AG  và  FG; giống Sa-lô-môn: 10 chi phái phía Bắc do Giê-rô-bô-am cai trị; hai chi phái phái Nam do Rô-bô-am lãnh đạo.

Phe đảo chánh đã được Hội đồng Mục sư AG  khắp nời ủng hộ. Trần đình Ái nghe tin sét đánh;  từ Cam-pu-chia vội bay về, nhưng đã muộn, mọi việc như đã an bài, ( Họ còn nhân đạo, không giết ông, như ông Dương văn Minh giết anh em giòng họ nhà Ngô Diệm- Nhu!).

Tưởng mình khôn, nhưng người khác còn khôn hơn mình; đúng như ông bà mình nói “ không có cái ngu nào giống cái ngu nào –vỏ quýt dày có móng tay nhọn” .

Trần đình Ái đâu chịu thua dễ dàng như vậy- đâu phải tay vừa. Với thế mạnh có “mụ vú nước ngoài” bảo kê. Trần đình Ái thuộc bài: Thủy hử Tống Giang 106 anh hùng hảo hán, ông tập hợp những đứa trẻ vị thành niên, dụ dỗ cho kẹo, tấn phong đủ loại hàm, đủ thứ chức; hứa dụ đủ mọi điều:

” Thần cậy cây đa; cây đa cậy thần” triết lý của Mỹ ” Không bạn không thù chỉ có lợi” Cây gậy thần Dolla có khả năng biến không thành có.  Quân sư cây đa được thần Đô-la hậu thuẫn; hiệp nhất với môn đồ bát nháo, áp đão được tình thế.

Mục sư Trần đình Ái tái thiết lập được ngôi vương,  có phần trổi hơn vương triều Vỏ văn Lạc Bùi thanh Sê.

Câu chuyện phong trào tư gia Việt nam, giống truyện Tàu ” Tam quốc chí:  Đông hòa Tôn Quyền; Bắc dụ tào Tháo của Khổng Minh; hay Chiến quốc sách : Tô-Tần hợp tung Bắc nam, còn Trương Nghi thì Liên Hoành Đông tây”.

Hầu hết các lãnh tụ sự dụng chiêu thức với nhau; thủ đoạn với nhau;  tranh thủ cho được đối tác Giáo sỹ nước ngoài. Mọi người học tập Maketing , tranh giành ảnh hưởng , tranh thủ đối tác từ tín đồ, nhân sự cho đến Mẫu hội. Thị trường tôn giáo hình thành; các loại cò tôn giáo ra đời, phát triển rất mạnh. Các khách san là nơi thông công tìm đối tác, cũng giống như Lầu Ngưng Bích , Thúy Kiều chọn làn chơi.

Nhiều thanh thiếu niên nhiệt tình, ông Ái dồn vào một nhà: củng cố vương triều đã bị ông Sê “nốc- ao”. Dương thành Lâm một thanh niên CM&A vừa ra khỏi Vũng tàu, may mắn  như Xuân tóc Đỏ gặp thời ( tác phẩm của Vũ trọng Phụng), Úm-ba-la-la được tấn phong Mục sư với hàm Phó Tổng quản nhiệm.

Vương triều AG tạm chia làm hai: Trần đình Ái giữ tên AG ( Asemble of God); còn Võ văn Lạc đổi tên FG ( Full Gospel), các ông đã được mẫu hội hàn quốc Cho-Giong-Gi bản trợ.

“Hổ phụ sinh hổ tử – thầy nào trò đó”. Ông Ái theo lịnh quan thầy,  lăng-xê Đế chế mình lên tận các tầng mây:

“ Ngũ tuần là số một”, bất cứ ai, bất cứ giáo phái nào muốn gia nhập làm nhân sự AG phải được tái giáo dục Thần học căn bản của AG.

Ông Ái có công dạy đám đệ tử sống cõi trên; không kiêu ngạo mới là chuyện lạ!

Hiện tại AG của Dương thành Lâm vẫn kế thừa công ước quái chiêu này: Ngũ tuần được quyền đi dạy các hệ phái khác; các giáo phái khác không được phép vào Ngũ tuần dạy dỗ, giảng Chúa nhật; trừ những người có nhiều tiền Đô tạm ứng trước.

Đúng, “ kiêu ngạo đi trước , bại hoại theo sau. Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo” ; “Gieo gió phải gặt bão”.

Điều gì đến phải đến. Mười năm sau, những cây gai, chà chôm ông Ái trồng tỉa, vun xới; nó đã cứng cáp , chổi dậy chích ông từ bàn chân lên tận đỉnh đầu; vào tận hồn-linh-cốt xương tủy.

Như số phận kẻ gian hùng phải trả giá: Dương thành Lâm đã đi đêm với Mẫu hội vú nuôi Hoa Kỳ, Mẫu hội cũng không chịu nỗi tính ngang bướng của ông Ái- ông Ái không dễ vâng phục Mẫu hội ( có tiền là có quyền).

Như kịch bản từ nữa bán cầu đã dàn dựng;.Cậu học trò năm xưa Dương thành Lâm nhờ bùa chú bầu cử, chỉ thắng ông Ái một phiếu bầu ( vợ ông ái đi nước ngoài). Số phận ông Ái đã an bài.

Đúng có một sự đau còn hơn sự chết:

“thằng học trò phản thầy không chút xót thương.. Ai ngờ xó chợ chẳng thương nhau”. ông Ái ngậm bồ hòn khen ngọt; đọc lại binh pháp Tôn Tử:

“  Tam thập lục kế- Tẩu vi thượng sách”

Trần đình Ái đi giảng đạo ngoài bắc; công an bắt đưa vào khách sạn 3 sao, được đối xử như một thượng khách: có điện thoại di động tự do liên lạc với các tòa đại sứ. Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà-nội vào thăm. Sau đó làm thủ tục để cả gia đình ông định cư ở Mỹ.

Việc bị bắt của ông Ái là một màn kịch công phu của các đại gia quan thầy tận trời tây. kịch bản kiêm kịch sỹ Trần đình Ái diễn quá tồi và ngây thơ lố bịch.

Sống dưới chế độ cộng sản đi truyền giáo Tin lành, bị bắt rồi đưa vào khách sạn ở; chỉ có Ngũ tuần Mỹ, ông Ái, Dương thành Lâm và người ra lịnh bắt mới hiểu rõ. Công luận đã lên tiếng việc mặc cả 1 triệu Đô-la để ông Ái ra đi trong vòng trật tự là điều có quyền nghi ngờ!!

Còn nhón FG thì sao ? lịch sử lặp lại

Riêng về Mục sư Võ văn Lạc và nhóm ông. Nếu Lê-nin sống lại ông rất đắc ý về câu nói của ông, không ngờ là tiên tri cho người Hội thánh Chúa: “ sự nhiệt tình cộng ngu dốt còn hơn phá loại”.

Mục sư Lạc là người thầy cầu nguyện tiếp nhận Chúa và Báp-tem cho tôi. Rất đáng tiếc cho ông, nếu ông không làm Tổng quản nhiệm, chỉ làm làm một người chăn bầy của một hội thánh địa phương  thì thật phước hạnh dường bao! Chứ lên gì cho cao ! giờ phải té nặng không ai đỡ nổi.

Điều gì đến phải đến, thêm một cuộc chia ly không báo trước. Mục sư Bùi thanh Sê  lại cao chạy, xa bay bắt được mối mới ngon ăn hơn: Ngũ tuấn  AG kiểu Ca-na-đa.

Thương hiệu AG Mỹ đã bị AG Ca-na-đa cạnh tranh. Giờ có thêm cả AG hàn quốc…

Giờ đây Phạm phú Ánh, Lý xuân Hòa học lại chiêu ông Lạc, người  đã làm ông Ái 15 năm trước. Cũng chỉ vì tiền , Rủ nhau bất tín nhiệm ông Lạc, thành lập FG 2. Không biết ngày nào ông Ánh, ông Hòa lại ly thân, ly dị lập FG 3 … thời gian sẽ rõ.

Đọc đến đây, tôi tin quý vị cũng như tôi xót xa làm sao! Từ một con sư tử chúa sơn lâm gầm thét, đem hơn một triệu rưỡi linh hồn về cho Chúa; giờ lại phải ngoan ngoãn, tự nguyện vào sở thú lại để được Mẫu hội thuần hóa làm gánh xiếc!.

Bốn lãnh tụ Tin lành tư gia giờ đây đã trở thành 4 đại gia (tư bản trắng) có tầm cỡ : Liên doàn 9 truyền giáo Trần Mai, Liên Hữu cơ-đốc Đinh thiên Tứ, AG Trần Đình Ai và FG Võ văn lạc. Thay vì để “lưu danh thiên cổ”, lại trở thành “lưu xú vạn niên”. Mỗi người có một danh hiệu riêng : Lịch sử Hội thánh tư gia Việt nam phải thêm vài trang sách “ Ba-la-am đội mồ sống lại”

Có thể ví phong trào tư gia Việt nam , như dân Y-sơ-ra-en trải qua 40 năm đồng vắng, quá chán ngán Ma-na, nước lạnh nghe Môi-se giảng luật pháp. Chịu không nỗi : lằm bằm oán trách , lập Đảng Cô-rê phản loạn, rồi cùng nhau chết trong đồng vắng.

Khởi sự phong trào ngũ tuần tư gia như vừa bước qua sông Giô-đanh, nếm được vài hột rang, ăn được ít trái cây đượm sữa và mật. Chuẩn bị lực lượng đánh chiếm thành Giê-ri-cô- chiếm xứ Ca-na-an.

Nhưng các lãnh tụ thành Giê-ri-cô đã nghiên cứu, bắt bài các lãnh tụ tư gia. Thay vì họ sợ, đóng chặt cửa thành cố thủ như tổ phụ họ đã làm; giờ  nó làm ngược lại: Mở cửa rộng ra, đem vàng bạc, bồ đào mỹ nữ chuẩn bị sẵn: lịch sự chủ động mời quý Ngài lãnh tụ anh hùng đức tin vào xơi! Như Ba-rác dâng vàng bạc châu báu cho đại tiên tri Ba-la-am.

Các thầy tế lễ, quý lãnh tụ thấy dễ quá- ngon ăn quá, không cần phải cầu nguyện- kiêng ăn, không cần theo biết ý Chúa: không phải mất thời gian im lặng đi vòng 7 ngày, tạ ơn Chúa mà nhận lãnh

Họ đã la to từ trong lòng , họ đã Amen từ vòng vòng thứ nhất ngày đầu tiên.

Thành không sụp, chỉ cửa thành rộng mở:  nào vàng, nào bạc, rào rượu bồ đào- săm banh; người đẹp đón chờ những anh hùng đức tin ở các khách sạn 3 sao, 5 sao;  từ Sài-gòn cho đến Thái Lan, Singapore, đến tận Hoa kỳ.

Các  anh hùng Ngũ tuần  thành Acan thời @“ www. Um-ba-la xe hơi, Hô-sa-na nhà lầu vila “; học bổng con đi Mỹ, thẻ xanh đồng loạt khoe sắc khoe hương . Bằng cao học, tiến sỹ đồng loạt lên đời…. không còn đủ giấy mực để ghi lại cho hậu thế

“ gia tài của mẹ  để lại cho con, gia tài của Chúa một lũ bội tình! Gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ một bọn giả hình”. 

Thay lời muốn nói : Tại một hội nghị các nhà tài trợ nhóm ở Thái lan khoảng  năm 2000. Ông Grem-mơ một giáo sỹ người Mỹ đã ở Việt nam trước ngày 30/4/75 đã nói một câu rất mỉa mai- phủ phàn :

” Việt cọng dùng đủ mọi thủ đoạn để phân hóa các Hội thánh thầm lặng Việt nam; nhưng đã thất bại. Riêng anh em chúng ta, chỉ cần dùng Dolla, chưa đầy 10 năm đã phân hóa hoàn toàn các Hội thánh Chúa tại Việt nam”

Ai ở trong bối cảnh thập niên 90 mới cảm thông sâu sắc được một thời kỳ vàn son của Hội thánh Chúa . Có thể nói một mùa gặt bội thu. Từ Sài-gòn lên các buông làng Tây nguyên; đâu đâu cũng nghe , cũng thấy chuyện tin lành. Nhà cầm quyền khủng hoản, gia tăng bắt bớ ngăn chặn phong trào Ân tứ, họ tưởng đây là diễn tiến hòa bình Đông Âu. Đông au và Liên sô đã sụp đổ.

Các Giáo sỹ thì cho Dolla vô tội vạ, vô điều kiện. Không yếu đuối mới là chuyện lạ. Bản thân tôi cũng nếm trải sự cám dỗ chút chút tiền bạc- danh vọng giả dối. Nếu Chúa không thêm sức , tôi cũng trở thành lính đánh thuê cho mẫu hội.

Giữa năm 1995 Mục sư Trần Mai thấy tôi phải đi lượm ve chai, độ nhật hàng ngày; thầy thương tôi muốn tôi làm Tổng quản nhiệm AG của Mỹ. Lúc đầu tôi nghĩ cám ơn Chúa mở đường.

Tôi về trao đổi với Nhà tôi, tuần sau tôi đến từ chối. Thầy Mai nổi giận với tôi, thuyết phục tôi mọi điều… Nhưng tôi học tập Đa-ni-en thà ăn rau mà bình an hơn ăn của mập béo của Vua mà lòng bất an. Ngài đã cứu tôi; tiếp tục làm nghề dân biểu  lượm ve chai , bán phụ tùng xe Honda

Tổng kết:

Một trăm năm CM&A như vua Sau-lơ: vâng lời Chúa một nửa; sống ngang tàn bất chấp luật lệ, cố chấp bịt lỗ tai không muốn nghe lời sự thật; lại đúc tượng mình để khoe khoang khoác lác- tự cho một  mình là tin lành thật; người khác là tin lành khác( tà giáo) . Kết thúc A-ma-léc đã cắt cổ Sau-lơ

Hội chúng địa phương ra đời như Đa-vít khởi sự quá tốt; nhưng Đa-vít khi ngồi trên ngôi cao sang, lại quên nghĩa tình thời hàn vi để cho Giô-áp, Áp-ne nồi gia xáo thịt. Không biết dạy dỗ con cái, gia đình ông không khác gì gia đình “Lôi-vũ”: loạn từ trên xuống dưới. Bi kịch sa-lô-môn ra đời.

Bốn đại gia : Liên hữu Cơ đốc Đinh thiên Tứ, Liên đoàn truyền Giáo Trần Mai; AG Trần đình Ái; FG Võ văn Lạc thì giống Sa-lô-môn: Khôn ngoan không ai bằng, giàu có vượt tổ phụ; nhưng mánh mung thủ đoạn thì hơn cả thầy mình : Đô-la nhìn không biết chán, ngôi thì quyết giữ cho đến hơi thở cuối cùng; lại tự phong cho mình là Thái thượng Hoàng. Mỗi người lập cho mình một Ngai vương. Tiền bạc thì nói như quan Anh trong vở kịch“ nghêu sò ốc hến”: “ ta thề không để một đồng xu rơi rụng”

Hổ phụ sinh hổ tử, cây nào phải sinh trái đó. Trò không giống thầy, không lẽ giống ” vợ thằng Đậu” Những lò Pha-ri-sy này sản sinh ra hàng công nghiệp chất lượng cao.

Nhiều tổng công ty, xí nghiệp, tân  giáo phái ra đời và to phình  từ đây: Giê-rô-bô-am. Một đêm thức dậy một tân tổng quản ra đời. Rô-bô-am rồi Rô-bô-am; các vua tiếp theo cứ noi gương tổ phụ, chuẩn bị xe pháo, tàu bay , tàu thủy sang Ba-bi-lôn làm anh hùng Đa-ni-ên, làm Ba bạn Hê-bơ-rơ tha hồ tung bay, lước sóng… Làm nên hệ phái cho đời biết tay.

Kỳ sau tiếp các Hội thánh tư gia thế hệ 10 x giữa thập niên 90; đặc biệt F1 và F2 ra đời giữa cơn đại nạn.

 

      CHUYỆN BÂY GỜI MỚI KỂ

Đến hôm nay tôi mới thật sự lấy hết đức tin cùng lòng can đảm mới dám kể những câu chuyện về mình; cũng như những chuyện liên hệ đến cuộc sống quanh ta: Chuyện thâm cung bí sử các Đại lãnh tụ trong các nhà tù cọng sản, cùng thời kỳ bắt bớ dữ tợn của Sê-sa .

Đối với văn hóa đông phương chúng ta; mọi sự đều bí mật, chí có tài nói hành sau lưng : ” Phủ binh phủ- huyện binh huyện” Quan điểm này đã giết chết phúc âm và sự phát triển xã hội. Đó là quan điểm phản dân chủ, hay dân chủ hổn loạn vô chính phủ. Các Hội thánh Việt nam nằm trong vòng kim cô bát quái này.

Nói  lên sự thật thì bị chụp mũ là nói xấu , nói hành, phán xét… chính lý do đó mà tội lỗi như chùm bao ăn lang, giết chết lẽ thật ; giết chết tin lành thật:

Các lẽ thật ” Quở trách tỏ tường hơn yêu thương dấu kín.. Nguyện người công bình đánh tôi là ơn” thì phớt lờ…. ngày nào cũng ca bài ca ” Tình yêu thuong cho ta nhóm với nhau… nhóm được với nhau là được rồi, các vấn đề khác giao cho Chúa. ” Dễ ta dễ mình, khó ta khó mình”

Tôi cố gắng viết lại những câu chuyện một cách trung thực : mắt thấy- tai nghe- tay sờ giúp cho sử ký Hội thánh một số sự kiện, mong hậu tự biết để học những gì tốt đẹp và tránhnhững sai lầm trong tinh thần :” Ôn cố tri tân” .

             I. Tại sao tôi trở lại với Chúa

1. Quê hương và giòng tộc tôi.

Nhắc đến quê hương tôi, không biết nên vui hay buồn. Nghe đến xứ Huế thì Ô ! biết bao nghệ sỹ , bao thơ văn ca tụng không thiếu; ca thương , ca dao -ca trù – ca dập …..sách báo thư viện đã chật chỗ

Bài ca mà từ lúc lên tám lên mười đã vào trong tâm khảm tôi, tôi vẫn còn nhớ

” Quê hương tôi miền Trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ  rung…

” Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi.. Mùa đông thiếu áo , mùa hè thiếu ăn

” Trời hành cơn lụt mỗi năm…..

Trời hành ,Trời hại, Thiên tai 4 mùa 4 kiểu khác nhau.. phó thác cho Trời, kiếp lai sinh phải thế thôi .

Quê hương tôi là thế đó; mình đâu có quyền chọn lựa ” 12 bến nước hay 120 bến mê .

” Trời hành cơn lụt mỗi năm” Thiên nhiên khắc nghiệt: Nắng cháy da- lạnh thấu xương . Nhưng người Huế như cây Thạch thảo trong sa mạc, vẫn ngẫn đầu lên, chắp cánh bay cao bay xa khắp 5 Châu 4 bể không một chút hỗ thẹn với anh em.

Huế đã nghèo, làng quê tôi lại nghèo hơn Huế. Đảo không ra đảo- đất liền không phải đất liền; đó là bán đảo nhỏ bé nằm bên kia vùng Đá bạc , kẹp giữa Thái bình dương và dãy trường sơn hùng vĩ. Đó là Quận Vinh Lộc, nay gọi là phú lộc. Làng tôi lại nằm giữa cửa biển Tư hiền và Thuận an. Xã Vinh giang. Quận tôi toàn vinh hết, oai quá chừng…

Địa danh thì Phú -Lộc, nhưng thật tế thì ngèo xơ, nghèo xác; như châm ngô mĩa mai

” Núi không cao, sông không sâu.. Trai thời  đa trá … Nữ thời đa … ôi đó cũng là quy luật cuộc chơi- của nhân tình thế thái!

Tôi chào đời năm 1952,  năm Nhâm thìn ; năm dân Huế không ai quên được : Năm đại hồng thủy biệt danh ” Lụt nhâm thìn”. Ba tôi là nhà nho hết thời ” Mười người đi học , chín người thôi Trần tế Xương” Vừa nho học, vừa Tây học. Mẹ tôi không biết một chữ Nhất một,  Mẹ tôi giống bà Trần tế Xương, đầu tắt mặt tối lo cho 4 con với một chồng nữ Tây nữa Ta.

Tôi lại là con út trong một gia đình 4 anh em, 3 trai một chị gái; bị áp bức tủi thân từ gia đình đến xã hội.

Tôi được nuôi bằng sửa mẹ cùng nước cơm pha chút đường. Tuổi thơ tôi không biết sung sướng là gì? khoai độn cơm. Mỗi lần ma chay đình đám được bửa thịt; mỗi năm họa lắm được bộ đồ mới,  khoe  khắp phố phường là sung sướng chi bằng.

Quê hương thì từ đầu của biển Tư hiền  cho đến Thuận an hơn 30 km toàn cát trắng vời hàng chục ngàn mồ mả, lăng tẩm;  Chùa miễu . Xa xa thỉnh thoảng thấp thoáng  một ngôi Giáo đường Công giáo.

Ba mẹ tôi quy Y nhà phật, là một gia đình sùng đạo. Ba tôi làm khuôn trưởng ( Chùa trưởng) . Chùa không có sư sải

Kỹ niệm sâu sắc nhất của tuổi thơ tôi là đánh bài. Cả làng hầu hết giỏi cờ bạc. Ba tôi thì sành điệu các loại bài bạc.

Năm lên 10 tôi thường ngồi lê bên sòng bài, ngồi xem, xin tiền lẽ ăn bánh, may áo quần. Lớn lên tôi thành chuyên viên cờ bạc.

Lên trung học tôi đánh bài lấy tiền đi học, xin quý vị thông cảm.

Tôi biết ăn chay nhị trai, tứ trai, bát trai từ nhỏ. Lên mười tôi là oanh vũ nam của Gia đình Phật tử. Cấp 3 tường Bồ đề Đà nẳng và đại học Vạn Hạnh; mọi nơi tôi được  nhận ân sũng học bỗng từ Phật giáo .

Tôi được hưởng chế độ” quốc gia nghĩa tử”   Ba tôi bị Việt cọng giết năm 1967. Ông nguyên là Chủ tịch xã.

Với quê hương và hoàn cảnh tôi như vậy; mà tôi được vào đại học, xong đại học văn – triết- sử, đó là phép mầu rồi, không hiểu nỗi đó là sự thật.

Bây giờ tôi đã hiễu Chúa đã chọn , Ngài giúp đỡ và biệt riêng tôi từ khi còn trong bụng mẹ.

2. Tại sao tôi bỏ Phật theo Chúa

Tôi tự vấn lương tâm ” không biết tôi bỏ Phật hay Phật đã phụ tôi”. Tôi sùng đạo từ nhỏ- đã quy Y với pháp danh ” Thích nguyên Trực” : Kính Phật- trọng Tăng. Giáo lý , giáo điều , cuộc đời Đức Phật Thích Ca thuộc vanh vách từ tuổi nhỏ.

Năm điều tuyên ngôn của Phật tử, đã gần 50 năm tôi vẫn còn in sâu trong lòng.

Phật tử quy Y Phật- Pháp-Tăng và giữ giới đã phát nguyện

Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống

Phật tử trau giồi trí huệ và tôn trọng sự thật

Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm

Phật tử sống hỹ xả để dũng tiến trên đường đạo.

Với lý thuyết- triết lý và  văn phong; chỉ 5 điều tuyên ngôn Phật tử trên không mê hồn trận thanh niên mới chập chẩnn vào đời mới là chuyện lạ .

Rồi triết lý ” Bát Chánh Đạo- Tứ diệu đế” đã mê hồn trận tôi như bát quái trận đồ. Tôi như Trư Bát Giới, tề Thiên đại Thánh vui nhận vòng kim cô theo thầy Đường Huyền Tăng qua Tây tạng thỉnh kinh.

Tôi say mê triết lý Phật giáo và tưởng chừng như niết bàn là thiên đàng, niết bàn trong tầm tay.Tôi kính trong các vị Tăng và tăng đoàn vì họ là bổn sư tôi thật.( quy- Y- Tăng).

Lại được giáo dục trong môi trường Phật giáo- hưởng một ít ân huệ của Phật giáo. Thượng tọa Thích thuyền Ấn luận Phật giáo hơn Thiên Chúa như vầy:” Chúng ta có thể thành Phật.. Còn tin Chúa thì tốt lắm cũng chỉ là người hầu Chúa (nô lệ) mà thôi.

Phật giáo dân chủ; công giáo độc tài…Phật giáo thương cả người lẫn vật…

Phật giáo có trước Thiên Chúa…Thái tử tất đạt Đa có 32 tướng tốt, sinh ra trong giòng tộc nhà Vua; Chúa Jesus sinh trong chuồng chiên mán cỏ…

 

Công bình mà nói, triết lý Phật giáo giúp cho lương tâm tôi tốt hơn, ảnh hưởng tư tưởng tôi, giới hạn tội lỗi khá nhiều. Giáo hội cho tôi học bỗng từ lớp 10 cho đến Đại học. Tôi học Đại học Vạn Hạnh từ mùa hè đỏ lữa cho đến ngày 40 /4/1975.

             Gậy ông đập lưng ông – biến cố làm tôi xét lại niềm tin

Tôi vào vạn hạnh mùa hè đỏ lữa 1972 với khoa ” Khoa học nhân văn”. Tôi không quên cụ Nguyễn đăng Thục tâm huyết về quốc học ” bảo vệ văn hóa dân tộc- văn hóa là gốc của dân tộc”.

Hòa thượng Thích quảng Độ dạy môn Phật học

Thượng tọa Thích thuyền Ấn dạy môn Triết học đông phương : Không tử và Lão tử

Nhiều Giáo sư dạy Tứ thư ngũ kinh và lịch sử văn học Trung Hoa.. tơi ảnh hưởng Quân tử tàu

Tôi đượng học bổng làm việc , một tuần 2 buổi văn phòng Viện trưởng Thích Minh Châu.

Nhờ thời gian và hoàn cảnh này; tôi chứng kiến lắm chuyện thâm cung bí sử của các Ngài ” tăng  vương”

Những gì tôi thần tượng các Tăng từ nhỏ , giờ tan biến như mây mùa hạ. Tôi khủng hoản niềm tin, thất vọng từ triết lý lẫn tuyệt vọng con người.

Tôi may mắn có nhiều cơ hội đối thoại với nhiều vị tăng học cùng lớp , sư tăng thượng thừa của viện Đại học Vạn hạnh. Tôi thường chất vấn các vị tăng, đặc biệt  triết lý,  phật pháp, đặ biệt giáo lý : ” quy Y Tăng”.

Tôi thường hỏi các vị tăng: Nếu vị Tăng mất phẩm hạnh, sư hổ mang thì số phận tôi ra sao? Không có vị nào thỏa mãn tôi! . Tẩy họ tôi đã nắm…. Nhất là sau 75 nhiều vị đã lên đời thành người của xã hội. Rước vợ con về sinh sống thật hạnh phúc…

Điều tôi sốc nhất là “Trái tim bồ tác” của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức; lại là chuyện bịa đặt để đấu tranh với nhà Ngô đình  Diệm. ” Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống” . Từ bi- hỹ xả- lấy ân báo oán ” mọi sự trở thành điều mỉa mai cho tôi…. Tôi bắt đầu xét lại  mọi Tư tửng Phật phật pháp, các giới luật của Phật giáo”

Vô ngã- vô chấp- vô thường thành : đại ngã- cố chấp- khác thường

Phật tại tâm thành tại Chùa, tại tăng

Ông Phật từ bỏ cung vàng điện ngọc; giờ quý vị xây Chùa cao sang lộng lẫy….

Phật giáo không có nền tảng giáo lý nhất quán. Phật giáo nguyên thủy Tích lan, khác Ấn Độ, khác Trung Hoa, khác Việt nam.

Phật giáo đi đến đâu hòa tan với các tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, hủ tục đến đó ở đó. Phật giáo thành đa thần giáo, hổn hổn hợp không giống ai.

Quý vị vào Chúa có cả ông Địa, cả ông Lộc, ông Thọ. Các vị Tăng là vỏ sư- dược sư- thầy tướng số tử vi, coi ngày giờ tháng năm…..Thậm chí cúng sao, cầu siêu, cầu hồn… Ông Thích ca Mâu Ni sống dậy, cũng chào thua.

Tư tưởng, triết lý, Phật pháp cứ tha hồ thêm vào. Một bài thơ cũng có thể thành bài kinh tụng giọng ai oán, như bài

” khi nào đứng đứng ngồi ngồi

bây giờ thiêm thiếp như chồi cây khô

Khi nào du lịch giang hồ

bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài

Khi nào lược giắc trâm cài

Bây giờ gởi xác ra ngoài gò hoang

Khi nào trao ngọc chuỗi vàng

Bây giờ một nắm xương tàn lạnh tanh…..

Thêm một vấn đề tôi bị lừa khi tôi váo Đại học. Câu chuyện sự tích Phật Thích Ca, là câu chuyện hư cấu của anh Võ đình Cường tác phẩm “Ánh đạo Vàng”. Thuở nhỏ chúng tôi lấy đó , tin những câu chuyện kể là sự thật . Mọi người tin một cách say mê. ví dụ

Ông Phật sinh ra từ nách bà Hoàng hậu vua Thịnh Phạn ; trong lúc dạo trong vườn Thượng uyễn, bà đưa tây lên cây vô ưu , một loại cây quý hiếm, một ngàn năm mới nở một lần.

Vừa từ nách ra, Hài nhi Thích ca  liền bước đi, đi bảy bước , bảy hoa sen mọc lên

Ông mở miệng tuyên bố :  Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.Tay chỉ lên trời, tay chỉ xuống đất : ( Phật giáo chủ trương vô ngã). Còn rất nhiều chuyện huyền thoại khác…

……………………………………………………..

Sau 40 tháng tư, tôi có nhiều cơ hội nói chuyện với anh Cường. Tôi cũng được làm phóng viên tờ báo “Giác ngộ” của Phật giáo Miền nam. Anh cường phó ban biên tập. Anh đã công nhận câu chuyện ” Ánh đạo vàng”  hoàn toàn hư cấu, chuyện huyền thoại, ly ký hấp dẫn. Anh Cường nỗi tiếng nhờ tác phẩm này.

Ba năm tôi được học , nghiên cứu tư tưởng Phật giáo; lạ được chứng kiến các vị Cao Tăng chóp bu giáo. Đúng như cô Kiều

” Trăm năm trong cỏi người ta

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Trông thấy, đau lòng; nhưng mình là chiếc bách giữa đại dương, như chim bị đạn,  làm chi được.  Tư tưởng tôi cảm thông tê tái với Nguyễn Trãi

Đã buồn về trận mưa rào, lại đau về nỗi ào ào gói đông”. Tôi đã mạnh dạng chọn con đường tốt nhất

“Đem duyên cầm sắc đổi qua cầm kỳ”

Duyên nợ tôi đối với Phật giáo dừng ngang đây.

Tinh thần dân chủ- tự do của Phật giáo là thế đó.

Không phải tại anh cũng không phải tại em; tại Trời xui khiến nên chúng mình chia tay.. Chia tay từ đây nhé! Phật đã bỏ tôi hay tôi bỏ Phật… khó có câu trả lời

Thêm một sự kiện như sét đánh ngang tai đó là: Tạp chí Tư Tưởng Vạn Hạnh , số 4 ra đời năm 1974 . Nhiều học giả Phật giáo – nhiều đại chân tu Tăng sỹ, đã khẳng định “Phật giáo không phải là tôn giáo” Thích ca Mâu ni không phải là giáo Chủ.

Ông là một Triết gia , một nhà tư tưởng cách mạng xã hội, giống như Khổng tử Trung hoa, như Socrat Hy-lạp. Ánh sáng cuối đường hầm , chim én báo hiệu mùa xuân. Thượng tọa Thích nhất Hạnh cựu Viện trưởng Đại học Vạn hạnh đã có chủ trương tân tăng ( tu sỹ được quyền lấy vợ, giống Nhật bản). Phật Giáo thấy sai lầm, đã xét lại. Tôi có cơ hội  xét lại hết, từ đầu đến cuối.

Tôi như rồng gặp mây, như ” Mai trong nữa chừng xuân, như  Lộc trong đoạn tuyệt” . Tôi được gải phóng  với “Tam quy – ngũ giới”. Tôi được tự do- tự do” . Tự do tứ đổ tường ” không còn bị vòng kim cô Đường Huyền Tăng bắt đi thỉnh kinh Tây Tạng bất đắc dĩ nữa” .

” Phật đã bỏ loài người, này anh anh cứ phụ tôi , này tôi,  tôi phụ loài người… Tôi thấm thía nỗi đau mất niềm tin.. Con thuyền không còn bến; cuốn theo chiều giáo, cánh diều tha hồ tung lượng không gian mênh mông.

Tôi thật sự không hận thù triết lý hay tư tưởng Phật giáo. Tôi chỉ buồn sao con người hơn 2000  năm rồi mà vẫn còn y nguyên, mình có thật tin không ?  không xét lại tin để làm gì ?

Phật giáo sụp đổ, sụp đổ từ gốc đến ngọn; từ triết lý đến con người hành động . Tôi cũng như bao người chỉ là nạn nhân của triết lý của thiên đường mù : thức đêm dậy sớm, ăn bánh lao khổ; linh hồn không biết đi về đâu !

Không biết Phật bỏ tôi hay tôi bỏ Phật. Thật sự cũng tội cho ông Phật; ông đâu có dạy những điều đó. Chỉ có đệ tử ” Họa xà thiêm túc” phong Thánh, phong Thần cho ông Thích ca.

Họ đã tạo ra tôn giáo với chùa tháp nguy nga tráng lệ, phản cảm với việc  làm của  ông Tất đạt Đa . Giáo lý ăn chay nằm đất, đi chân không khất thực, không vợ con, trái quy luật thiên nhiên, làm  khổ cho biết bao người , bao thế hệ nhẹ dạ cả tin như tôi mất 15 năm lưu lạc. Quý vị tham khảo thêm tư tưởng cư sỹ, một học giả Phật giáo  Lê-mạnh Thác

Nho giáo lên ngôi

Chia tay với Phật giáo không trống, không kèn. Tôi như người sống để ngắm xem cuộc đời, chơi cho đời thỏa thích. để ngắm xem con Tạo xoay vầng ra sao ! ngày mai ra sao ! Ra sao cũng chẳng sao!  Phải lao vào để thấy sao

Tôi học đòi theo thuyết  hiện sinh, lạc  quan tếu của Nguyễn công Trứ. Sống để tận hưởng cuộc đời

” Tế suy vật lý tu hành lạc

An dụng phù danh bạn thử thân”

Sống để chờ chết; vậy trước khi chết phải tận hưởng thu mọi thú vui trần gian. Tiền để làm gì ? sống để làm gì ? là triết lý sống của tôi.

Nguyễn công Trứ và Tây Môn Khánh (Thủy hử) là mẫu người tôi thích. Hành lạc là số một. ” Nhất chơi Tiên, nhì chơi tiền”.

Tôi sống trụy lạc “tứ đổ tường” . Ngày nào không bia, rượu; tối đó ngủ không ngon.

Sau biến cố 30/4/75  tôi như người tâm thần.. chỉ muốn ra đi , đi cho khỏi chủ nghĩa cọng sản vô thần….

Tôi phải đi làm Giáo viên văn cấp 3. Phải đối diện hàng ngày: họp hội, phê tự phê hết ngày này, qua tháng nọ, người như phát điên. Lại phải dạy điều chống lại tư tưởng mình- phải ca tụng điều giả dối. Phải làm người hai mặt….

Tôi thấm thía bài thơ người bạn tôi cùng  dạy văn ở Củ Chi .

” Thân thể ở trong nước

Tâm hồn ở ngoài nước

Muốn lên sự nghiệp lớn

Ta cần phải xuống nước”

Bao nhiêu tiền bạc người Chị cho, trôi theo dòng nước, đã xuống nước; mất sạch . Tâm hồn cô đơn lại về với cô quạnh.

Tôi lao đầu làm ăn, kinh doanh kiếm tiền với mọi giá. Giai đoạn 3 lợi ích 4 lợi dụng , tôi như diều gặp gió. Tiền vô như nước sông Hồng; tiền ra của sổ như  không có gì

Tiền vào cấp số cọng, tội lỗi tăng  cấp số nhân. Cú vẫn hoàn cú. Của thiên trả địa; tay không hoàn lại tay không. Chán đời không muốn sống.

                                                                           II. CHÚA GỌI TÔI

Đêm giao thừa định mệnh 1984

Những năm 80 , tôi như con ngựa bất kham; thích là nói thích là làm. Gaio thừa đầu xuân năm 1984 tôi cảm tác bài thơ ngông

” Pháo nổ um sùm vui quá ta

Nhậu nhẹt la rai tí gọi là

Thiên đường giờ Chúa chắc buồn  nhỉ !

Trần thế em nay  vui quá ta !”

Tôi đem bài thơ này đi khoe bạn bè gần xa, tự thấy mình, thi sỹ  ngon lànhtư tưởng  hơn cả Cao Bá Quát

” Ngoảnh  mặt lại Cữu Hoàng coi củng nhỏ”.

Còn ta , ta vui hơn cả Thiên Chúa- trần thế vui hơn thiên đàng. Tôi tin không ai ngông cuồng vô lễ như  tôi.

Ai kêu cầu danh Ta sẽ được cứu.

Cái gì đến, phải đến. Chỉ một năm , từ một người vố hào hoa phong nhả, thành tên ăn mày đi bán từng lít bia hơi kiếm tiền ăn xôi buổi sáng. Bạn bè chí cốt ” vô vô trong các cuộc vui thâu đem suốt sáng” đã cao chạy xa bay. Giờ chỉ còn lại ta với ta, với bài thơ khốn nạn.

Bao đêm không ngủ với khói thuốc cứ nối tiếp cháy trên môi. Tôi thấm thía cuộc đời là gì ? địa ngục trần gian là gì ? tôi muốn chết, nhưng tôi không can đảm tự chết; hồn tôi như thi hào Vũ Hoàng Chương

” Thấm thoắc vào đây đã tháng tròn,

Lông hồng chưa nặng tợ bằng non

Một manh chiếu rách hồn vô tôi

Ba bác cơm rau xác mỏi mòn

Đến bử cơm ăn thường nhớ vợ

Đêm nằm giấc ngủ lải thương con

Bao nhiêu nước chảy qua cầu ấy

Dễ gì pahi được tấm lòng son”

Tuyệt vọng nhất.

” Hãy nhận con đi, dù địa ngục hay thiên đàng”

Địa ngục hay thiên đàng không liên quan gì với nỗi đau tận cùng của tôi. Tôi trở về với Chế Lang Viên

” Tôi có chờ đâu, tôi có đợi đâu!

Nghe tin xuân đến gợi them sầu

Đối với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”

Tôi như người tâm thần, tôi lang than tìm rượu, tìm bạn hiền. Tôi nhớ lại người bạn vong niên, người đàn anh , cựu tu sỹ Đại Học Vạn Hạnh. Đại đức Thích Huệ Nhật. Hơn một năm trước vợ chồng anh Nhật, chị muộn đã làm chứng Chúa Jesus cho tôi. Nhưng tôi đem bài thơ tôi ra chọc, và hát ” Chúa đã bỏ loài người”. Có nhiều lần anh nổi sùng, sút đánh tôi…..tôi làm khổ anh Nhật nhiều lần, nhưng anh rất kiên nhẩn, truyền tình yêu Chúa cho tôi.

Vào một buổi chiều mùa đông, tôi đi chiếc PC đến nhà anh Nhật, với bộ mặt thảm sầu vợ bỏ. Vợ bỏ thật.

Tôi chỉ còn nói được ” ai cho tôi bình an tôi tin” tôi sẵn sàng lạy cục đá, ổ mối, nếu được bình an.

Anh Nhật cầu nguyện cho tôi, hẹn tôi đến nhà thờ Lữ Gia gặp mục sư Lạc tiếp nhận Chúa. Tôi như gặp được cố nhân chiếc phao thần kỳ.

1.Đêm mưa tầm tả

Không biết số phận tôi gắng liền với mưa, sinh ra trong năm hồng thủy, lớn lên thì bão táp phong ba. Tôi không bao giờ quên , cái đêm bên ngoài mưa tầm tả , trong lòng lạnh buố thấu xương; trận mụa cuối mùa đông 1984.

Tôi vồn vã đến sớm, anh Huệ Nhật nhiệt tình đưa tôi gặp Mục sư Võ văn  Lạc,  nhà thờ Lữ Gia gần nhà tôi.

Mục sư Lạc không phải làm chứng dài dòng cho tôi. Ông thấy nét mặt hốc hác, buồn thảm như con ma chết, ông chỉ muốn cầu nguyện. Ông bảo tôi ,  Chúa sẽ ban bình an cho anh. Nữa tin nữa ngờ, Tôi cầu nguyện như một lời cầu may.

” Lạy Chúa nếu Ngài có thật, xin Ngài cho con bình an.. Chúa cứu con, con khổ quá rồi Chúa ôi !”

Mục sư Lạc cầu nguyện tiếp nhận Chúa cho tôi. Một phép lạ xãy ra ngay cho tôi. Sự bình an thật đã đến cho tôi… tôi sướng quá, tôi la lên có Chúa thật rồi, Đức Chúa Trời có thật, Chúa Jesus có thật. Tôi đã được tái sinh trong đêm đông mưa rơi tầm tả. Mưa ngoài trời nhưng không mưa trong lòng tôi! ôi Chúa ôi ! lòng tôi  bình tịnh an bình làm sao ! Chỉ có Trời mới làm được ! tôi nhảy múa như em bé thết mẹ đi chợ về… cảm giác bình an còn đến bây giờ.

Chị tôi, gia đình tôi quá kinh ngạc về tôi. Cứ 5 giờ sáng tôi đến Lữ gia cầu nguyện. Ban ngày vừa bán bia hơi, vừa làm chứng về Chúa. Tôi say mê nói về sự bình an, sự tha tội, sự thật về sự hiện hữu, sự cứu rỗi của Chúa.

Tôi thuyết phục đem hàng chục người tin Chúa … Tôi say mê đọc kinh thánh và sách bồi linh. Tủ sách Lữ Gia, tôi nuốt trong vòng 6 tháng. Lòng tôi thay đổi, cuộc đời tôi thay đổi. Một tháng sau bỏ thuốc lá, bỏ rượu, bỏ cờ bạc…. tôi như đang ở thiên đàng. Từ khi tin Chúa cho đến nay, không khi nào tôi bỏ nhóm thờ phượng Chúa Nhật; trừ khi ở tù.

Gia đình, làng xóm, bạn bè quá ngạc nhiên sự thay đổi, lột xác con người tôi. Tôi không muố gì khác ngoài Jesus, Ngài đã cứu tôi thoát cuộc đời tăm tối- khỏi tội lỗi xấu xa mà trước đây tôi muốn thoát nhưng vô vọng.

Hàng ngày tôi tìm đối thủ phật giáo để tranh luận; tranh luận quên ăn… người thương thì cũng nhiều; người ghét cũng không ít. Nhất là người chị thân yêu của  tôi quá thất vọng vì tôi không còn theo Phật- không ai đội lư hương lúc bà qua đời.. không còn nhậu nhẹt say sỉn, không còn làm mồi ngon cho chúng tôi nhậu nhẹt, trai gái thâu đêm… Tôi còn bị chọc không còn tính đàn ông.. Tôi phải nghe chưởi rủa cả giòng họ tôi.

2. Chịu bá-tem

Tôi được học giáo lý báp-tem khoản 3 tháng tại Hội thánh Lữ gia. Tôi vốn người lắm thắc mắc; Mục Sư Lạc rất khổ với tôi.

Sau khi chịu báp tem, lễ phục sinh năm 1985.  Chúa cứ tiếp tục đổi mới; bỏ được thuốc lá, rượu, cờ bạc, em út. Tôi thường đến nhà anh Huệ Nhật ở Quận 5. Anh Nhật làm nghề sửa dép, Chị Muộn vợ anh Nhật bán cơm.

Rất bình an- vui mừng – hạnh phúc. Tôi thường làm cho anh Nhật khó chịu vì niềm tin nhiệt tình không kiềm chế của tôi. Tôi khoác lác  ” Tôi qua ca-na-an bằng máy bay Bô-ing ”

Khoản 1986, tôi gặp anh Nguyễn bá Tài nguyên là nhân sự Trần cao Vân. Anh Tài thường đi với Đoàn như Sỹ, Hồ ngọc Trực. Họ rủ tôi  đi cầu nguyện , cầu nguyện rất nhiều; tôi được học tập tinh thần cầu nguyện của anh Tài. Anh Tài chủ trương không làm việc , Chúa nuôi… Sau đó 4 anh em cùng nhau ra thành lập Hôi thánh ” Vinh Diệu”

Chưa tới một năm, Vinh diệu thành vinh váo. Anh tài nói tiên tri cảm hứng, lại có tư tưởng cao quá lẽ. đành phải chia tay bất đắc dĩ. Tôi trở lại CM&A làm tín đồ quốc tế. Nhóm tứ nhân của Hội thánh vinh diệu cũng phải ra đi. Bây giờ anh Tài lập Hôi thánh Ni-si.

Tôi được tham gia nhiều nhóm; nhưng có điều không có chỗ nào giống CVSĐ. Tôi cầu nguyện hỏi ý Chúa, tại sao người ta giám chối bỏ đường lối Chúa, lại thành lập hội giống tổ chức trần gian.

Tôi hỏi nhiều Mục sư, nhiều tôi tớ Chúa mọi hệ phái; tất cả các câu trả lời không thỏa lòng được tôi. Tiếp tục nghiên cứu lịch sử Hội thánh; nhiều tôi tớ Chúa cũng nói các hệ phái cải chánh còn nhiều điều thiếu hụt, cần phải khôi phục, phục hưng.

3. Biến cố gây sốc cho tôi và cho nhà cầm quyền.

Sau khi đọc lịch sử các Đế quốc và tuyển dân D0-Thái. Tôi rút ra bài học và viết lên trong nhất ký :” Chủ nghĩa Cọng sản phải sụp đổ” Thời gian này Chủ nghĩa cọng sản đang cực thịnh (1986). Hơn 100 nước theo hoặc cảm tình. Ông Lê Duẫn gọi là 3 dòng thác cách mạng.

Tôi đi hết chổ này đến nơi khác, nỗi đau trong lòng về tình trạng thuộc linh cúa các hệ phái. Tôi bắt đầu suy tư: ” Nếu phấn đấu làm giàu thì cũng không thể bằng người khác; phấn đấu học để thành ông này ông nọ; mình cũng không thể bằng người ta…. Chỉ có con đường phấn đấu để trở thành người thuộc linh là tốt nhất; khả thi nhất.

Tôi cũng thấy lịch sử Việt nam, tinh thần yêu nước, giữ nước đâu kém hơn Do Thái. Thông minh khôn ngoan, mưu lược cũng vượt trội : 1000 năm Tàu đô hộ, không khuất phục được ý chí độc lập; 100 năm Đế quốc Pháp cũng phải mang cờ trắng ra đi trong vòng trất tự…. Tại sao Việt nam không có một nhà văn, nhà thơ, một danh nhâ văn hóa xứng đáng với tầm cở của một dân tộc nhỏ bé, nhưng quá cương cường bất khuất…

Tại sao các nước có những nhà Thần học tầm cở thế giới; Việt nam thì cứ bắt chước, làm theo , xin theo; tôi cản thấy mắc cở .

Bao nhiêu câu hỏi khiến tôi không thể ngồi yên, và không muốn trách ai ! chỉ có suy gẫm về chính mi nh2 nhiều hơn.Tôi học câu nói của Thủ tướng Anh trong thời đệ nhị thế chiến :” các bạn phải làm gì cho tổ quốc, đừng bảo tổ quốc phải  gì cho các bạn”. Tôi nói với Chúa ” Con phải làm gì cho Chúa; Chúa đã làm hết cho con rồi”

Tối dốc đỗ học, nghiên cứu kinh thánh. Học rồi cầu nguyện ngày đêm; đọc bất cứ sách gì liên hệ đến Chúa và Hội thánh Chúa… câu kinh thánh giúp tôi vượt qua gian khó, cũng là kim chỉ nam cho đời tôi ” Ai tin Ta thì làm việc Ta làm và còn làm lớn hơn- Sự kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời là khởi đầu sự khôn ngoan “

Hai năm sau, tôi mạnh dạng xin Chúa một điều :” Xin Chúa cho con làm điều gì mà người khác chưa làm, Chúa ôi! con không muốn làm con voi ăn mía nhả bả; con muốn làm con ong ăn hoa nhả mật. Con muốn Cha sáng danh qua con”.

Quả thật trong đời tôi , điều tôi ghết nhất là ăn bám và làm nô lệ. Dù là của tiền của cha mẹ . Tôi quyết tự lập, tự nghiên cứu lời Chúa- Học với Thánh Linh

Mấy tháng sau Chúa trả lời cho tôi :” Điều con xin,  Ta cho; nhưng cái chén ta uống, con uống được không”? . Tôi Amen không một chút do dự, thậm chí còn vui mừng vì được uống chén Chúa uống.

Chúa cho tôi người vợ, ngày lễ hôn phối của tôi, như giọt nước tràng ly, góp phần trong việc thêm sóng gió cho ban lãnh đạo CM&A và Hội thánh Tuy Lý Vương Mục sư Đinh thiên Tứ.

Sau một tuần lễ Mục sư Tứ làm lễ kết hôn cho tôi, Mục sư Tứ phải ra khỏi Tuy Lý Vương trong vòng 24 tiếng theo án lịnh kiểu Công giáo cổ đại của CM&A hợp tác với nhà cầm quyền Cong sản.

Đầu năm 1989. Hơn 500 tín hữu Tuy Lý Vương làm sóng gió với Tổng Liên Hội CM&A , làm đơn kiên Tổng Liên  , muốn độc lập, nhà thờ Tuy lý Vương. Cuối cùng phải chấp nhận làm tám khẻo ” chúng tôi xin ly khai khỏi CM&A”.

Đây cũng là mốc lịch sử của phong trào tư gia có tiếng vang lớn, ảnh hưởng không nhỏ cho Tổng Liên hội CM&A, và các phong trào tư gia về sau. Mục sư Tứ như một Martin- Luther Việt nam.

Đầu năm 1990, Tổng thống Bill Clington bỏ cấm vận; các giáo sỹ chuẩn bị đổ quân vào Việt nam. Các đại lãnh tụ Việt nam bị trận mưa bom “Dolla”.

 Lời cầu xin đắc giá

Vào tù lần thứ nhất

Tôi được nhà cầm quyền chiếu cố. Tôi ra nhóm tư gia từ năm 87, công an đã mời tôi không biết bao nhiêu lần, và lập biên bản truyền đạo tin lành trái phép nhiều nơi.

Thời điểm này, nhà cầm quyền rất sợ các nhóm nhánh tôn giáo, đặc biệt là tin lành được tuyên truyền là đạo Mỹ. Họ quyết tam tim cho ra tổ chức nào đứng bên sau điều khiển.

Cuối năm 1989, tôi ra khỏi nhóm anh Tự, đồng công với anh Tuấn quận 8, lập nhóm riêng. Tôi lên truyền giáo Huyện Đạ-Hoai, tỉnh Lâm Đồng; sau 3 lần truyền giáo, số người tin Chúa cầu nguyện và Báp-tem được  13 người.

Đầu xuân 1990, trong lúc hát thánh ca vào một buổi tối , bên ngoài trời tối đen. Một bóng đen xuất hiện với AK cầm tay. Tôi được làm biên bản “Tuyền đạo tin lành trái phép” về đồn ” Tạm giữ 2 tháng 4 ngày”

Khoảng 10 đêm, họ dẫn tôi xuống nhà giam. Tôi tưởng như địa ngục. Hơn 10 phạm nhân đã ngủ yên trong phòng. Tôi chỉ quỳ gối cầu nguyên; một người anh em nói nhỏ , con cũng là con Chúa thầy ơi !

Năm 1990, đất nước nghèo lắm. Khẩu phần ăn của phạm nhân chỉ có 3 chén cơm với mấy hạt muối hột, chén canh đại dương.

10 ngày sau, xác thịt đòi hỏi : Thèm thịt , thèm có… thèm tự do. Mình đang làm tu sỹ thích đủ thứ.

Thời gian, mọi sự cũng qua thôi. lao động khổ sai, nhịn nhục rồi cũng quen. Hoạn nạn giúp mình thêm nhịn nhục  anh em nhiều hơn.

Lần đầu tiên vào tù; mới thấy được ông bà đã nói :” Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Đau đớn nhất là khi vào tù, bạn đồng công bỏ chạy, còn trách ngược, đủ mọi lời phe phán chỉ trích…. Tôi nhớ lại điều đã cầu xin ” theo gót chân Ngài .. phải chịu uống chén khổ nạn , phải như  người lính giỏi “.

Sau khi ra khỏi tù, tôi cứ tiếp tục truyền giáo tự nguyện; thường giảng dạy với nhóm về nguồn ở Hố Nai và Trị An. Nhất là sau khi Liên sô sụp đỗ, chúng tôi được chiếu cố cẩn thận. Công an Thành phố- quận- phường xa luân chiến. Dùng đụ mọi chiêu thức của triết học mác, để khống chế phong trào tư gia. Họ đưa ra tổ dân phố tố khổ, hù dọa. Cám ơn Chúa, chúng tôi biến những lần ra tố khổ thành buổi làm chứng Chúa Jesus đã biến đổi con người tội lỗi của tôi :” Trước đây tôi say sỉn, cờ bạc, trai gái, sao chính quyền không kiểm điểm… giờ tôi từ bỏ mọi sự đó , quý vị lại bắt bớ tôi.. ”

Vào tù lần 2

Tôi được Sê-sa đánh giá là nhân vật nguy hiểm, nghi tôi phụ trách Tây nguyên tin lành Ful-rô, sau này Tin lành Đê-ga. Lý do họ nghi tôi làm chính trị là : Một hôm chúng tôi thờ phượng 6 người tại nhà tôi. Công an vào lập biên bản rồi khám xét nhà; tịch thu nhiều sách báo tài liệu . Quyển nhật ký của tôi viết năm năm 1986… các đế quốc chống Chúa phải sụp đổ ” Chủ nghĩa cọng sản phải sụp đỗ”

Họ yên lặng theo dõi tôi quá kỷ. Họ nghĩ đã tìm được tổ chức chống cọng tầm cở. Đến khi Đông Âu sụp đổ, đầu năm 1991 Liên sô lại sụp đổ…. Đảng cọng sản Việt nam, như ngàn cân treo sợi tóc. Thế triệt buộc phải cô lập các ông tin lành của Mỹ vào tù cho chắc ăn; theo triết lý Tào Tháo ” Thà tôi phụ người, hơn người phụ tôi”

Trong bối cảnh, Việt nam bị bao vây tứ phía: Thù trong giặc ngoài ” . Nhiều Đảng viên cọng sản kỳ cựu chống đối đảng, xin ra khỏi dảng;  như Đại tá Bùi Tín xin tị nạn ở Pháp. Nhiều phong trào chống cọng nỗi lên. Kinh tế thì bế tắt, kinh tế mới, rồi đổi tiền, đánh tư sản, nhân tình thì chán chường chủ nghỉa xã hội không tưởng nghèo đói, phi nhân bản… Có thể nói lòng người từ đảng viên cọng sản cho đến thứ dân tan như nước. Đất nước như một ngục tù , chỉ muốn xuống nước, ra đi mơ về bên kia bán cầu, ước mơ một ít tự do thoải mái….

Cám ơn Chúa, ai đi được thì vui, ai không thoát khỏi thì nhậ tôi danh bán nước, ngồi tù. Trong thời điểm không còn gì để bám. Người ta tìm kiếm Chúa, Chúa đoài hoài dân Việt. Nhiều tôi tớ Chúa hiệp nhau cầu nguyện, kiêng ăn cầu nguyện. Chúa đã phục hưng  các nhóm tư gia. Ti lành bùng nổ, số người tin gia tăng đột biến….Vốn đã sợ Tin lành của Mỹ, giờ Tin lành của Chúa Jesus còn gây bất an cho chế độ gấp trăm lần. Một số giáo sỹ lại nổ : Đông Âu sụp đổ là nhờ đoàn thanh niên tin lành xuống đường….. Ba-lan nhờ Công giáo.  Chính quyền buộc phải ra tay trấn áp. Sợ cách mạng Đông Âu-Liên sô nhập khẩu qua Việt nam…

Khoảng tháng ba năm 1991 khi Liên sô vừa tan rã.  Mục sư Tứ, mục sư Ái vào 3 C ( nhà tù 3c Tôn đức Thắng)  với tội danh ” Lợi dụng tôn giáo , tuyên truyền chống nhà nước XHCN”

Tháng 10 Mục sư Trần Mai, vào buổi sáng, tôi vào buổi tối.

Khoản 5 giờ chiều, sau chuyến đi cầu nguyện với anh em công giáo về nguồn. Tôi đang ở ngoài quán nước chợ Tân Bình (chúng tôi có sạp bán áo quần trong chợ). Bổng dưng công an phường 8 gọi tôi về phường bắt tôi làm tường trình,  hôm nay đi đâu? làm gì?. Tâm linh tôi thấy có điều gì bất ổn, tôi không nghĩ lại bị bắt tập trung 3 năm.

Một giờ sau, một chiếc xe hơi đời mới màu vàng của sở công an thành phố xuất hiện; với mặt đằng đằng sát khí của ông công an thường hỏi cung tôi. Họ đưa tôi về nhà, khám xét rồi đọc lịnh ” Tập trung cải tạo 3 năm – Truyền đạo tin lành trái phép”

Trong túi tôi và vợ tôi chỉ còn mấy chục ngàn, phải mượn hàng xóm mấy trăm bỏ túi. Tôi lên xe hơi đời mới bên người bạn dân ăn nói lịch sự.

Tôi vào 3c , trại tạm giam của an ninh Thành phố khi thành phố vừa lên đèn. Ngày hôm sau , nghe có Mục sư Trần Mai vào buổi sáng. Tôi biết thầy Mai, thầy Mai không biết tôi; vì tôi chỉ là một tín đồ vô danh. Cách nhau 5 phòng nhưng không thể nói được gì ? cũng không thể gặp mặt nhau.

Kỹ niệm không thể nào quên ở 3c .

Sau khi phạm nhân cùng phòng chuyển đi nơi khác. Một mình tôi với 4 bức tường tối mịt. Đêm về, tiếng bán hàng rong vang vọng : Mì nóng giòn đây, hột vịt lộn đây…. thèm tự do, thèm bánh mì, thèm hột vịt lộn… buồn nhớ vợ, nhớ anh em như muốn phá vở nhà tù..

Vợ tôi ở ngoài thì  hết người này cố vấn, hết người khác quân sư quạt mo. Làm đủ mọi thứ đơn, xin gặp đủ mọi cơ quan… Nhưng ý Chúa phải được nên.

Trước đây tôi phải lo kinh tế cho gia đình. Khi tôi vào tù,  vợ tôi phải làm thuê, làm mướn đủ tiền nuôi bản thân, còn thăm nuôi tôi hàng tháng. Tiêu chuẫn thăm nuôi tôi là mắm ruốt kho tiêu với  thịt  và mì ăn liền cân kg . Ăn riết nắt bị dị ứng, ngứa mắt muốn  khùng luôn.

Một lần vợ tôi gợi ý chị vợ tôi, mược một chỉ để lấy vồn xoay xở, mua áo quần bán. Chị vợ tôi nói một câu để đời:” tụi bây mượn lấy gì mà trả”. Vợ tôi khóc quá chừng,chị em ruột cùng niềm tin, chồng đi tù vì danh Chúa… mà đối xử như vậy. Trong lúc những mục sư khác bà đối xử rất đẹp. Còn đệ tử thì ” Năm thì mười họa chăn hay chớ; một tháng đôi lần khi có khi không” . Đủ thứ Chúa cho chúng tôi học tập chịu đựng, tưởng như bỏ cuộc.

Riêng người chị ruột thân yêu tôi, ở trong nhà, không bao giờ đoái đến, dù là một bịch đường nghĩa tình; bà còn chưởi rủa tôi thành lay, ai bắt đi truyền đạo chết rán chịu. Vợ tôi thì bà cứ chưởi rủa thiếu mấy chỉ vàng chưa trả được… kẻ thù từ trong nhà nội- ngoại… anh em hội thánh gần xa : ” Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương” . Đúng là kính thưa các kiểu, kiểu nào cũng có em; em xin .

Trong tù ngồi đếm từng ngày như người tình đếm từng chiếc lá thu rơi; như  Giô-na chờ ngày NI-NI- VE sụp đỗ. Hàng ngày cầu nguyện cho mau sụp. Hầu hết anh em bị tù vì chính trị, đều tin như vậy.

Nói cho công bằng, cán bộ quản giáo và chấp pháp không hành hạ hay đánh đập chúng tôi; họ thông cảm việc họ làm phải làm; thậm chí kính nể chúng tôi,  vì danh Chúa vào tù một cách vui mừng, không oán thù ganh ghết cọng sản. Thậm chí còn cậu nguyện cho họ. Chính điều này làm phật lòng anh em đấu tranh vì dân chủ; họ kiếm chuyện, gay gỗ hoài. Tôi khổ tâm là tôi ngày phải nghe chưởi rủa…

Ở 3c được 21 ngày; chúng tôi được dời qua 4 Phan đăng Lưu tiếp tục nghỉ dưỡng, thuộc bộ công an điều tra bổ sung.

Mặt đối mặt : chơi cờ tướng.

Tôi ở dãy B, thầy Mai ở dãy C. Phòng kế bên là Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, cựu phó viện trưởng viện đại học Vạn hạnh “diễn đàn tự do dân chủ” . Phòng tôi 4 người chống cọng không đội trời chung.

Suốt ngày nghe chưởi rủa ông Hồ Chí Minh, và cọng sản. Lúc đầu rất khó chịu; nhưng rồi cũng quen. Tôi không đồng công chống cọng, họ đâm ghét tôi, làm khổ tôi đủ mọi cách. Chúa cho tôi học nhịn nhục đến điều với bạn đồng tù.

Có một điều hơi khó nghe : chúng tôi rất thích gặp chấp pháp để đối thoại những việc mình làm. Tôi và Thầy Mai được đánh giá là cứng đầu cứng cộ, không biết sợ tù và sợ chết. Chúng tôi thường chấp pháp họ nhiều hơn là họ chấp pháp chúng tôi; họ rất nhức đầu khi hỏi cung chúng tôi.

Vào Phan đăng Lưu được 2 tháng. Thử thách đến với tôi : 2 tháng không gặp mặt vợ; chỉ được nhận đồ thăm nuôi.

Hai tháng dài đằng đẳng, không biết chuyện gì đây… đủ mọi kiểu đoán mò, đoán hươu vượn. Lòng tôi thì tan nát, chỉ còn cầu nguyện xin bình an.

Cuối tháng thứ hai, ngày thăm nuôi, tôi được mời lên làm việc. Họ vốn biết tôi am hiểu luật , dân luật, công pháp quốc tế…

Họ điều một ông đại úy chấp pháp có trình độ để chơi cờ tướng với tôi. Ông này là bạn của bạn học ở Đại học văn khoa sài-gòn sau 75.  Hai năm học bổ túc ngữ văn tại khoa học nhân văn, nhiều sinh viên biết tôi vì tính ngang  tàn – quá thẳn của tôi; đáng lẽ tôi nằm trong danh sách bị đuổi, nếu không có  Phạm đình Nguyên bí thư đoàn trường can thiệp.

Việc đầu tiên ông chào hỏi tôi rất lịch sự, rồi phủ đầu tôi liền : Ông ra lịnh không cho tôi gặp mặt vợ 2 tháng …

Sau đó lịch sự mời thuốc lá, ca tụng tôi , cho tôi ăn bánh vẽ, đưa đi tàu bay giấy…. khuyên tôi đừng truyền đạo nữa, về lo cho vợ con.

Tôi trả lời : Cám ơn cán bộ, tôi không tốt như cán bộ nói; tại tôi xấu , tội lỗi lắm; vì quá tội lỗi nên  tôi mới tin Chúa.  Còn các anh tốt rồi,  đâu cần tin.

Tôi vào tù là đã chuẫn bị trước; thậm chí rất vui, vui nhất là được gặp các anh , để các anh hiểu đúng Tin lành không phải là đạo Mỹ. Tin lành là Chúa Jesus.  Vì nước  Mỹ mới lập quốc hơn 200 năm. Còn tin lành đã có gần 2000 năm. Các anh nên đính chính tư duy sai lầm : Mỹ theo tin lành, chứ không phải Tin lành của Mỹ.

Nếu Chúa chúng tôi không cho phép các anh, các anh sẽ không tồn tại, không đụng được tôi đâu? chúng tôi thương các anh, vợ con các anh, chúng tôi yêu quê hương mới dám từ bỏ mọi sự theo Chúa…

Ông cắt lời tôi, quát tôi : vào đây rồi mà vẫn còn truyền giáo. Tôi chặn lời , tôi đâu truyền giáo, tôi chỉ trả lời điều cán bộ hỏi, và chỉ làm chứng về sự thật mà…chúng tôi đâu bắt các anh tin đâu !

Mắt ông đăm đăm nhìn trực diện mắt tôi. Mắt tôi cũng đứng tròng nghiêm khắc nhìn  lại. Ông nghiêm mặt nói: Mục sư có biết đảng và nhà nước ta đang xây dựng một XHCN pháp quyền không?.

Như đụng vào chổ ngứa của tôi, tôi quát không một chút sợ hãi : ” Xin lỗi cán bộ, câu nói của cán bộ nên để nói với anh nông dân vùng nông thôn Mỏ cày- Cần Giờ, hay một công dân quét rác. Cán bộ biết, tôi là nhà báo, nhà nghiên cứu  mà…

Các anh đang xây dựng một XHCN rừng quyền, AK quyền. Tôi hỏi anh pháp quyền gì mà bắt tôi không cho tôi một mãnh giấy ( lịnh cải tạo 3 năm chỉ nghe đọc, không cho án lịnh) ?;  các anh cỏn thua thời Tự Đức; tiêu diệt Gia-tô giáo đều có ” Ấn chỉ lịnh truyền” …  các ông thì ấm ớ hội tề, ném đá dấu tay; các anh nên ngay  thẳn; can đảm tuyên bố ta là Đảng cầm quyền, có quyền bắt ai tùy ý, muốn tha ai tùy lòng ! Đảng còn hơn vua…

Chúng tôi sẵn sàng đi tù, hoặc ra pháp trường, bảo đảm  không van xin, không làm đơn giảm án.. hãy đưa chúng tôi ra tòa vì tôi truyền đạo tin lành trái phép ( Có phép đâu mà trái).Tại sao lại tập trung cải tạo.

Ông hơi đuối lý, xuống giọng; cuối cùng vấn đề chính lộ diện : ông hỏi :” Tại sao mục sư chống cọng, nói Chủ nghĩa cọng sản sụp đổ, điều này từ đâu đến….”

Tôi trả lời :” Nếu ai đó nói không chống cọng là nói dối ; các anh là đảng viên còn chống.. các ông là vô thần, còn chúng tôi là hữu thần,  sao không chống được ?” vấn đề chúng tôi chống các anh bằng tư tưởng, bằng tình yêu của Chúa; còn các anh chống chúng tôi bằng cách bỏ tù chúng tôi”

Còn ấn đề vchủ nghĩa cong sản sụp đỗ, ai đứng sau lưng tôi và làm cho sụp. Tôi trả lời :

” Tôi nói điều này đã 4 năm trước , bây gời Đông âu đã thật sự sụp… Liên sô thành trì cũng đỗ rồi.” việc đã ướng nghiệm, tôi là một tiên tri, sao không tôn trọng tôi, mời tôi làm cố vấn, lại bắt tôi đi tù. Thật chỉ có cọng sản mới hành sử như vậy !

Việc các anh bắt tôi , tôi không có điều gì tiếc nuối hay thù nghịch các anh. Chúa tôi, các tổ phụ tôi đã đi trước. Hôm nay, nước các anh thắng chúng tôi; ngày sau khi Chúa chúng tôi tái lâm, chúng tôi sẽ liện tất cả những ai vô tin, bắt bớ Hội thánh Chúa và hỏa ngục… đó cũng là cuộc chơi của sự công bình, OK

Còn ai bên sau tôi, hơn 3 năm các anh theo dõi, tôi chả biết , chẳng quen một ông Tây, ông Mỹ ông nước ngoài nào hết; sao các anh sợ tôi đến nỗi bắt tôi vào tù… nền an ninh các anh vững chắc quá ư…

Trong lúc tôi không có một tất sắt, không có một Hội thánh địa phương nào hết.. so với biết bao lãnh đạo tư gia đồ sộ khác, lại không bắt. . Tôi càng nói ông đại úy càng bối rối. Tôi vẫn quý ông, ông không giận tôi, lại yêu tôi, cảm thông tôi nhiều.

Dự kiến làm việc cả ngày, nhưng ván bài đã lật ngửa, chẳng còn gì nói nữa. Tôi chẳng CIA, chẳng diễn tiến hòa bình, chiến tranh gì cả… bé cái nhầm rồi.
Cám ơn Chúa, cho tôi nếm trải đủ mùi cô đơn, buồn tủi; nhưng có chút can đảm của lòng chân thành, có sao nói vậy; ông Đại úy chấp pháp không làm khó dễ tôi nữa, cho đến khi ra khỏi tù.

Điều thú vì nhất ở 7 tháng Phan đăng Lưu; Chúa rất gần , rất thú vị được gặp 106 anh hùng hão hán. Nhiều chuyện thâm cung bí sử từ thới Ngô đình Diệm cho đến các đại lãnh tụ được một nhân chứng ” ông già câu cá” trình bày vanh vách..

Một câu chuyện khó quên là thầy bùa cầu cơ.

Có một người vào tù vì bán đồ quốc cấm, nói tiếng Anh lưu loát, phòng giam nhộn nhịp, súm nhau học tiếng anh. Anh chàng là một thầy chuyên cầu cơ, lên đồng. Anh bảo vợ mang miếng ván hòm, để tối cầu cơ cho vui.

Trước đó tôi đã nói, có tôi ở đây thì cơ không lên được. Họ tưởng tôi đùa, cứ thử các thần…. Sau 12 giờ đêm, anh chàng đọc thần chú; tôi thì quay mặt cầu nguyện, chống lại ma quỷ.

Hơn một giờ cầu cơ, ngón tay người cầm cơ cứ lắc lắc, nhưng không di chuyển được cơ.; gần 2 tiếng, cơ vẫn không hoạt động được. Toàn phòng hoan man, tôi thì chọc quê , như Ê-ly thách thức Ba-anh.

Tối hôm sau, chính anh thầy bùa cầm cơ; vẫn xãy ra như đêm trước. Riêng người cầm cơ hôm trước, quỷ nó nhập, cứ 3-4 giờ sáng nó la, quậy không ai ngủ ngược. Cả phòng hoản sợ, bắt qua ngủ với tôi… Nhưng nó vẫn quậy…giờ cả phòng thấy được uy quyền trong cơ-đố-nhân thật.

Tuần sau, tôi được lịnh chuyển phòng. Khi cán bộ quản giáo bảo thu dọn áo quần, tôi cứ tưởng được trả tự do..

Đến phòng chờ, đã thấy thầy Mai đợi sẵn. Trên cùng chuyến xe Jeep; hai tay chúng tôi với thấy Mai chung một còng số 8,  chiếc xe jeep lượn quanh một vòng từ chợ bà-Chiểu qua Võ thị Sáu rồi đi thặng vào Khám Chí Hòa.

Lúc đầu còn e ngại vì 2 an ninh kèm sát hai bên. Chúng tôi chỉ nhìn nhau không nói  được gì, nhìn quanh mọi người đang nô đùa, rộn rã của nhịp sống thành phố ; còn chúng tôi 2 tay bị còng trên chiếc xe có người hộ tống; con đường phải đến cho là  trại giam Chí hòa; tương lai phía trước còn thăm thẳm.

Một kỹ niệm khó quên khác, khi ở 3c và  Phan đăng Lưu tôi hút thuốc lại, hút ghiền luôn, ngón tay phải vàng khè vì thuốc lá. Mỗi lần ra thăm nuôi tôi phải nắm tay lại bỏ vào túi; sợ vợ và anh em buồn. Thầy Mai đã nghe điều này, cầu nguyện cho tôi nhiều….Cám ơn Chúa, cám ơn thầy Mai.

Đến phòng chờ Chí hòa, Thầy Mai thấy tôi còn bao thuốc lá, thầy quở trách tôi…. tôi xấu hỗ, tức tốc xé gói thuốc và tuyên bố đoạn tuyệt thuốc lá. Cám ơn Chúa, cám ơn thầy Mai; kể từ đó không bao giờ dám thử nữa.

Vào Chí Hòa được ở chung với nhau một phòng. Thấy anh em đông đão, sách báo đầy phòng, lòng thấy vui, dù quá chật. Phòng chiều dài khoản 6 mét, 5 mét;  tù nhân khoản 40 người. Mỗi người được  một mét vuông. Đông người chật nhưng rất vui. Nhiều anh hùng hão Hán quy tụ về đây; tôi học được nhiều điều : thâm cung bí sử, chuyện đông tây kim cổ , đủ mọi thứ ngoài đời tha hồ nổ, không thể hiểu nỗi. Tù là nơi hội tụ anh hùng lương sơn bạc không sai.

Tôi chứng kiến một người có trí nhớ như máy thu âm. Anh đó tên là Lúa, quê ở Hóc môn. Tối về một nhóm quây quần bên ấm trà bắc, nghe anh đọc truyện kiếm hiếp. Anh nhớ từng câu , từng sự kiện. Nhớ cả chục bộ kiếm hiệp..

Tôi hồi tưởng lại, thời CVSĐ. Các sứ đồ đến dạy, hay một thư tín; có người nhớ thuộc lòng rồi truyền miệng, lưu truyền cho hậu thế.

Nhà tù Chí Hòa là nhà chờ đi lao động, thi hành án. Nên họ cho đọc báo và tự do rao giảng tin lành; chỉ cần 2 gói thuốc lá thì kinh thánh hay sách bồi linh có thể vào phòng. Năm 1992 kinh tế còn khó khăn, anh em quản giáo quan hệ với tù nhân thoải mái, chỉ cần biết điều vài bao thuốc lá là mọi sự như ý.

Chúng tôi tổ chức làm chứng, dạy đạo cho một số anh em công giáo, một số tin lành nguội lạnh, nhiều giám đốc công ty bể tín dụng .   Không khí rất vui. Tối lại, từng nhóm từng nhóm tha hồ nói chuyện trên trời dưới đất.

Trong giai đoạn này, rất nhiều giám đốc, tổng giám đốc bể hụi, bể tín dụng đua nhau vào tù.  Người nào cũng 8 năm, 18năm. Sau khi tuyên án, nhiều bà vợ vào thăm, mang theo tờ xin ly dị; với lời nói phủ phàn :” Anh ở tù mười mấy năm, em lấy gì nuôi con. Cho em ly dị để có thể bán nhà sinh sống”. Ngậm đắng nuốc cay phải ký cho trọn tình trọn tội”.

Chúng tôi cũng gặp nhiều anh hùng hão Hán với đủ mọi khuynh hướng chính trị tôn giáo khác nhau. Phòng kế có bác sỹ Nguyễn dăng Quế; trong phòng lại có một Thượng Tọa và một Li nh Mục công giáo. Ông Thượng tọa thì giảng Phật pháp. Chúng tôi thì giảng Phúc âm, nhộn nhịp như hội chợ rất vui…

Sở dĩ cán bộ cho chúng tôi thoải mái, lý do bản thân họ cũng không dám tin chế độ cọng sản tồn tại lâu dài nữa- họ cũng chán nản, mất niềm tin- sống thoải mái với anh em nhà tù. Đông Âu súp đổ, Liên sô tan rả.. chỉ còn lại 4 nước theo chế độ XHCN, lại nghèo khổ, lạc hậu.

Niềm hy vọng chúng tôi ngồi đếm từng ngày trôi qua, như Trịnh công Sơn nhìn những mùa thu qua; như Giô-na ngồi chòi, đếm từng ngày chờ Ni-ni-ve sụp đổ. Đây cũng là động lực giúp chúng tôi thêm niềm tin, vượt qua sóng gió.

Thời gian 7 tháng Chí Hòa, thầy Mai và tôi có nhiều cơ hội trao đổi khải tượng, và hướng tương lai Hội thánh. Lúc đầu Thầy Mai không hiểu tại sao tôi vào tù với tội danh ” truyền đạo tin lành trái phép”, trong lúc thầy cùng 2 mục sư : Tứ- Ái là ” Lợi dụng  tôn giáo chống CNXH”. Đúng ra tội  tội “chống Chủ nghĩa cọng sản” Tôi cũng không cho thầy Mai biết sự tình của tôi.

Hơi buồn cười, giống chuyện trong nhà ngoài phố. Nhưng đây là chiến lược dương đông kích tây , giả mù sa mưa của những chiếc lược gia “giả vờ qua ải” của cọng sản.

Thầy tha hồ bồi linh cho tôi, tràng giang đại hải, tha hồ múa gậy vườn hoang; nổ cho hết đạn để về Trảng Bom định cư.

Thầy Mai cho tôi khải tượng không đụng hàng về tương lai Hôi thánh gồm hai bước

1. Phải truyền giáo theo cách mới :

Thầy nói trong sự tin quyết, xưa nay đi câu cá, hay đi đánh lưới; kết quả quá chậm; cho nên không môn đồ hóa được muôn dân. Bây giờ thế hệ chúng ta, phải thay đổi tư duy, thay chiến lược : phải be biển, ngăn sông tác nước bắt trọn hải sản.

Biển là thế gian, muốn truyền đạo có kết quả nhanh; phải khoanh vùng lùa mọi người vào một nơi; không phải câu, đánh lưới mất thời gian, lại thiếu hiệu quả…bắt mọi người tin Chúa, Như Hoàng Đế Constantin cơ-đốc giáo  hóa Đế quốc la mã.

2. Phải thay đổ chế độ:  từ quét rác cho đến Thủ Tướng là Cơ-đốc-nhân…..

Muốn thực hiện được khải tượng đó, phải thay chế độ; cơ đốc hóa lãnh đạo chính quyền. Phải xây dựng xã hội  Thiên đàng trên đất .. chuyện như thiệt, còn hơn huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương….

Thầy còn gợi ý tôi, tôi sẽ làm chức cao nhất trong chính quyền tương lai….

Tôi nghe, hoản hồn.. Tôi hỏi thầy Mai : Thầy đã đọc truyện Don- Ki -sốt chưa? tôi sẽ giúp thầy một cây kiếm, một cối xay; thầy tha hồ chém gió, đánh với cối xay gạo thoải mái; thầy giống Don-ki-sốt quá ! Gây dựng một người chưa xong; ổn định một Hội thánh địa phương còn trầm trầy trầm trật, mà đòi cơ-đốc-hóa chính quyền…. Thầy Mai giống như Nữ Oa đội đá vá trời. Tâm hồn hoang  tưởng của thầy Mai khó ai sánh kịp.

Thầy Mai nổi nóng với tôi, cho tôi không có đức tin…. Tôi nói với thầy, cám ơn lòng tốt của thầy. Tôi không được kêu gọi làm chính trị, và khả năng tôi làm phường trưởng cũng không  xong, lấy đâu làm Thủ tướng.

Hơn nữa, Hội thánh là thuộc linh, chỉ lo thuộc linh.Hội thánh là ánh sáng chiếu vào thế gian; không phải là thế gian. Hội thánh là muối của đất, không phải là đất.

Hội thánh chỉ ảnh hưởng trên chế độ, trên chính quyền, trên loài người; Hội thánh không hội nhập, không thỏa hiệp hay đồng hóa với các thể chế chính trị hay bất cứ một đảng phái nào hết. Các sứ đồ và hội thánh đầu tiên không cần tham gia chính trị; nhưng Hội thánh đã chi phối mọi sinh hoạt của đế quốc La-mã suốt thời gian 300 năm.

Có thể con cái Chúa ra tham gia chính trị , tham gia một đảng nào đó. Còn Mục sư Chúa kêu gọi lo chăn bầy cho Chúa. Mục sư phải đứng ngoài chính trị; trên chính trị , có thể cố vấn cho lãnh đạo chính quyền. Mục sư phải yêu cả kẻ thù và cầu nguyện cho nhà cầm quyền, dù họ bắt bớ, bỏ tù mình…

Hội thánh không hoan hô ai ! cũng không đã đảo ai. Hội thánh phải yêu mọi người, phải yêu cả kẻ thù nghịch; làm sao làm chính trị được.

Chính trị thì yêu ghét; bạn thù phân minh. Không thủ đoạn, không dối trá làm sao mà làm chính trị.

Tôi đã khuyên thầy Mai, bỏ ý định ; từ giả khải tượng (thấy voi) đó đi. Chúa kêu gọi chúng ta vào công trường thuộc linh. Còn chế độ này đứng hay ngã là của Chúa, Chúa có toàn quyền cho sụp theo thời điểm của ý Ngài. Xin đừng đi trước Chúa, làm Don ki-sốt đánh gió, chém cối xay nữa.

Thầy Mai thì bạo miệng, bạo gan, bạo phổi; thầy giảng không cần tra xem kinh thánh, cứ lấy đức tin theo bụng mình giảng dạy hùng biện thoải mái vô tội vạ. Không rành kinh thánh thì nghe thầy giảng sướng lỗ tai, chuyện như trong nhà ngoài phố  đở buồn ngủ.

Khi còn làm chủ tọa Hội thánh Trương minh Giảng , thầy đã nổ nhiều điều nghe muốn lùng bùng lổ tai ; tạo sóng gió một thời, nhiều người rối loạn cả đức tin. Ví dụ :

” Tin Chúa Jesus chắc được cứu không ? Thay vì giảng tin như thế nào mới được cứu

Tái sinh thì không còn phạm tội.. Tôi hỏi lại thầy :” Thầy còn phạm tội không ? Thầy không dám khẳng định. Nếu nói còn thì chưa được tái sinh; nếu không thì nghịch kinh thánh…..

Không đầy dẫy Thánh lình thì vào đại ngục : tôi hỏi Tên cướp trên thập tự có đầy dẫy Thánh linh không? thầy đầy dẫy Thánh linh chưa ?

Một hôm giảng về đề tài Chúa tái lâm, thầy Mai nổ : Sợ ngày mai Chúa tái lâm, không giám đi sửa chiếc xe mô-bi-lét …..” Mô-bi-lét không sửa, nhưng xe hon-da đời mới thì thầy chăm sóc rất kỷ…

Một thời thầy làm xáo trộn cuộc sống vì con rồng ” Bất cứ vật dụng gì có hình con Rồng thì phải đập bỏ, thiêu hủy : Còn vàng rồng SJC thì thầy bỏ vào tủ sắt…

Thầy Mai sáng tác một lối nhập đề theo lối Tu từ học giật gân  : Ví dụ

Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh, cụ phó Đoàn văn Miên nói vậy…. sai, hoàn toàn sai… Mọi người im phăn phắt, lỗ tai nghe bùng bùng… thầy Mai cũng im lặng vài phút, xong thầy hạ giọng … rồi la to  :” đó là Sa-tan nói”.

Còn nhiều vấn đề giật gân khác , ai ở Hội thánh Trương minh Giảng đôi phen  khủng hoản niềm tin về thầy Mai.

Một lần khác, thầy tranh luận với tôi vấn đề hai  cây giữa vườn. Thầy Mai khăng khăng Chúa cấm hai cây đó. Tranh luận bất phân thắng bại. Thầy Mai nhờ cô Liễu vợ thầy mang được quyển kinh thánh vào , thầy tá hỏa Chúa chỉ cấm trái cây biết điều thiện  và điều ác..Thầy mới chịu thua, biết phục thiện

Một lần khác nữa, tôi chia xẽ, Chúa cho chúng ta địa vị ”  là Jesus kế thừa”. Thầy nỗi nóng với tôi, bảo tôi kiêu ngạo…. mĩa mai tôi…. tôi chứng minh đủ điều ” Chúa là anh cả. Chúng ta đồng kế tự Đức Chúa Trời…” Thầy vẫn bảo thủ , cho đến khi giáo sỹ ngoại quốc, giảng y như vậy; thầy mới chịu thua, xin lỗi tôi..

Tôi lần lược chỉnh thầy từng điểm một. Thầy ngạc nhiên vì sao tôi chỉ là tín đồ, trong mắt thầy tôi là tín đồ, tại sao tôi lý giải cho thầy những vấn đề hóc búa này, Lại hiểu được các lẽ đạo mầu nhiệm….. Thầy Mai cũng có ưu điểm dễ tiếp thu, cầu thị khá tốt. Thầy không tự ái với lời lẽ như bom nổ bên tai của tôi.

Sau này khi ra khỏi tù, nhiều giáo sỹ giảng dạy các lẽ đạo trên, trùng hợp với những gì tôi đã chia xẽ cho Thầy trong thời gian ở Chí hòa.

Thầy Mai ngạc nhiên , không hiễu nỗi, tại sao tôi chưa có bầy chiên , chưa có một Hội thánh địa phương, chưa được ấn chứng chức vụ Mục sư;  lại đi tù vì ” truyền đạo tin lành trái phép” thay vì tôi phải tội danh :”  chống Chủ nghĩa xã hội”mới đúng.

Từ đây thầy quý mến tôi, anh em ăn chung, được ăn chung với lãnh tụ là hãnh diện lắm. Đồ thăm nuôi thầy Mai không thiếu vật ngon, của lạ. Còn tôi , phần thăm nuôi thì cứ mắm ruốt kho thịt, mì gói, bột ngũ cốc, vì vợ tôi phải đi làm thuê vừa đủ nuôi sống bản thân, và đủ thăm nuôi.

Còn nhiều chuyện huyền thoại khác ở Chí hòa không thể kể hết được.

Tống lê Chân nghe thôi đã khủng hoản

Trước 1975 ai nghe đến Tống lê Chân thì hiện lên lữ đoàn ” Biệt động quân” tóc dài ngang vai. Chỉ ăn ngủ dưới hầm sâu chịu mưa pháo kích ngày đêm. Tống lê chân nằm ở ngã 3 biên giới thuộc tỉnh Bình Phước. Tây giáp Tây ninh, Bắc giáp Cam-bo-di-a; đông giáp Bình long.

Trại tù Tống lê Chân có khẩu hiệu : Mản tù trước mãn án. Nơi giam giữ đại bàn đầu gấu khét tiếng, chung thân… họ cho chúng tôi vào đó để qua tội phạm hình sự xử lý chúng tôi; nếu có thể cho chúng tôi về với Chúa trước thời định.

trên chuyến xe kinh hoàn

Tôi còn nhớ kỷ, sáng thứ sáu ngày thăm nuôi, chúng tôi dọn lòng chờ gặp gia đình . Cán bộ quản giáo báo chuẫn bị hành trang lên đường.

Hai chiếc xe tải 5 tấn chờ sẵn. Một chiếc có hai hàng cây sắt ; mỗi cây mang 40 chiếc còng . Tù ngồi theo lớp đối diện mỗi bên 20 người.

Quảng đường dài 120 km, đường thì ổ gà ổ voi. Khủy chân tưởng như đã gãy; chỉ biết kêu Chúa cứu. Còn chút ít tiền trong túi, bì tù móc hết.

Đến Tống lê Chân khoản 4 giờ chiều. 8 vị Mục sư truyền đạo đã tiếp đón chúng tôi trong ngỡ ngàn…..

Tuần lễ sau, Mục sư Tứ, Mục sư Ái mời thầy Mai nói chuyện, đề nghị thầy Mai tách tôi ra ăn cơm chung với họ trong mâm Ni-cô-la biệt danh “Tù ông nội”. Tù có hai người tù lo mọi sự ( cả đấm bóp hàng đêm).

Thầy Mai không chịu hội nhập với mâm đại gia lao động nghệ thuật bên 4 suối nước, không có 12 cây chà là.

Cuộc chiến tranh dành ảnh hưởng bắt đầu.

Mục sư Tứ, mục sư Ái và trước chúng tôi hơn nữa năm. Hai vị đã có số má nhất định. Mục sư Ái có đệ tử trung thành người dân tộc K Hor ; Mục sư Tứ cũng có Dũng Chàm xì ke. Mục sư Phụng ngũ tuần FG, Mục sư Hà Oanh, Hà Hát CM&A thì trung lập.

Năm tình hình xong, Thầy Mai lên kế hoạnh chinh phục nhân tâm với kế hoạch :” Tiền hô, hậu ủng” Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Với lợi thế tiền bạc vô tư, thầy Mai tặng quà hậu hỹ cho 3 mục sư trung lập.

Hai mục sư dân tộc từ chối làm nhân sự thầy Mai; thầy Phụng thì im lặng là vàng; khiêm nhường để thầy Mai múa gậy vườn hoang.

Thầy Mai bắt đầu lấn sân, dành dân. Dũng Chàm một tín đồ CM&A bị tù vì hút chích; hiện được lao động tự giác.

Dũng Chàm bỏ chủ cũ (mục sư Tứ) chuyển qua chủ mới hào hiệp hơn, tương lai hơn. Từ đây chiến tranh lạnh giữa hai đại gia ầm ỷ; ban giám thị thêm dầu cho hai đại sư quyết đấu. Nhà tù Tống lê Chân hình thành một :” Tam sư  chiến quốc” giống như Tam quốc Chí diễn nghĩa.

Thầy Mai đóng vai Tào Tháo

Thầy Tứ đóng vai Lưu Bị

Thầy Ái đóng vai Tôn quyền.

Ban quản giáo đóng vai Khổng Minh Gia Cát Lượng kiêm Chu Du liên hoành.

Chúng tôi làm quan sát viên bất đắc dĩ.

Thầy Tứ vốn giỏi Chiến quốc  :  Đông hòa Tôn Quyền , hợp tung bắc nam, lợi thế vào trước, được Sê-sa quan tâm.  Thầy Tứ, thầy Ái cũng chỉ liên minh bất đắc dĩ. Mỗi người đã hùng cứ một phương, vương quyền một cỏi, hơn nữa thầy Tứ lúc nào cũng muốn làm đại ca.

Thầy Mai làm Trương Nghi với thế :” liên hoàng Tây đông” với Dũng Chàm.

Ba tháng sau, thầy Mai không còn ăn cơm chung với tôi. Thầy Mai xứng đáng đại diện cho xứ quãng  dúng nghĩa ” tính toán hơn cả trùm sò keo kiệt”

Thầy Mai tập trung cho liên minh Đông-tây mới hình thành, dĩ nhiên chơi gát thầy Tứ, dành Dũng Chàm.

Thật tình mà nói, tôi cũng không thiện cảm với Thầy Tứ, thầy Ái, với lối sống phi cơ-đốc, nịnh cán bộ, vẫn thích ngồi mát ăn bát vàng. Các anh em khác phải lao động nắng cháy da người; hai vị thì bỏ tiền mua lao động, tối về mướn hai tù phạm mồ côi đấm bóp hai bên xem thù nghịch thập tự giá quá. Hầu hết tù đều ghét hai ông. Thậm chí lúc đầu còn làm tà lọt cho quãng giáo :” pha trà, nấu mì gói cho cán bộ quảng giáo ” để khỏi lao động. Trà, mì gói mình phải bỏ ra.

Lúc đầu chúng tôi cũng được quản giáo đề nghị làm lao động phục vụ trà nước cán bộ, tôi và thầy Mai đồng suy nghĩ, chúng ta là đầy tớ Đức Chúa Trời, là khâm sai Christ, không chấp nhận làm Ô-sin cho cán bộ để né tránh lao động; sẵn sàng chết trên công trường lao khổ vì Chúa, không thể quỳ gối  làm hàn thần lơ láo. Cho nên bị đì tối đa, xem chúng tôi cứng đầu cứng cổ. Tất cả anh em đều phải lao động khổ sai cho đến ngày được trả tự do.

Bốn tháng sau, Thầy Mai bị viêm khớp đầu gối, phải làm Tôn Tẩn với cây gậy đi ra công trường. Hàng ngày tôi phải dẫn Thầy đi rồi về, giống đi ăn xin trông thật vui.

Về sự việc thầy Mai bị biệt giam 2 lịnh (15 ngày)

Trong thời điểm đó, luật nhà tù rất nghiêm khắc. Ai gời thư lậu ra ngoài đều phải bị biệt giam; đã có mấy người vi phạm .

Thầy Mai bản tính thích làm Phao-lô, viết thư gởi sứ điệp từ tù cho Hội thánh. Tôi đã can thầy đừng gởi thư ra trong giai đoạn này. Thầy Mai tin Chúa che chở bảo vệ; thầy gởi một lá thư cho một tù nhân mãn án.

Khi bị cán bộ xét hỏi, anh ta khai có thư thầy Mai. Thế là thầy bị kỷ luật, biệt giam 2 tháng. Chế độc biệt giam chỉ cần nghe qua đã thấy khủng hoản; đại bàng đại bát gì cũng phải khiếp vía.

Chỉ mặt một quần đùi, trong một căn phòng khoản 9 m2, lợp tôn; chân bị còng suốt ngày đêm. Tiêu chuẫn một bửa an một tô nhỏ cơm trắng, với một ít muối trắng. Ngày nắng nóng, đêm về lạnh thấu xương, phải chịu đựng 15 ngày như thế.

Trong lú thầy Mai bị biệt giam; ở ngoài Khổng Minh,Chu Du đã chuẫn bị một màn kịch, tuyệt chiêu để phe Lưu Bị với Tào Tháo thành song hổ quyết đấu.

Thầy Mai vố đa nghi. Quản giáo là thầy của đòn xóc nhọn hai đầu. Họ mời ông Tứ ra nói chuyện riêng sau hè, rồi vào văn phòng, sau đó lại cho một đệ tử đứng xa xa nhìn xem sự kiện để có cớ báo lại thầy Mai theo kịch bản

Sau hai tuần chịu trận, thầy Mai sụt hơn 5 kg, trông khủng khiếp. Buổi chiều lúc 5 giờ, tôi chờ mở cửa phòng , thầy Mai di không vững, phải dìu thầy vào tắm rửa.

Mấy ngày sau, diển viên thuật lại thêm bớt : ” em thấy ban quản giáo nói chuyện với Mục sư Tứ, thầy Tứ làm antent hại thầy- em nghe 100% ”

Thầy Mai tin như thiệt, nó hàng ngày thầy Mai nhờ vã. Thế là thầy Mai trút hết nghi ngờ cho tôi và thấy Phụng… lúc đầu tôi hơi tin, chờ xem. Tháng sau tôi gặp thầy Tứ đề nghị hai thầy gặp nhau giải quyết chiến tranh lạnh.

Thầy Tứ Amen cao, thầy Mai thì lúc đầu Ok, sau đó quân sư quạt mo ngăn cản; thầy mai lấy lý do sợ thầy Tứ lập mưu hại tiếp.

Tôi cố thuyết phục thầy Mai bởi đức tin phải gặp ba mặt một lời, để cả nhà tù nhìn hai mục sư kình địch ô danh Chúa quá. Các mục sư đồng lao cũng quá ngán ngẫm thầy Mai đa nghi như tào Tháo; thầy Tứ thì sống keo kiểu tù Đại ca ông nội.

Sau khi thầy Mai không chịu ngồi lại thông công giải quyết; tôi đánh giá thầy Mai không ngay thẳng thật lòng, tôi không còn tin như ban đầu. Đây là đòn ly gián của ma quỷ.

Thầy Mai loan tin ra ngoài, vợ thầy Mai thông báo cho  Liên  đoàn truyền giáo và các giáo sỹ ” Thầy Tứ làm Antent hại thầy Mai”. Rồi một số báo nước ngoài lên tin này.

Từ đây phe Tào Tháo mở trận Xích Bích với phe hợp tung Đông ngô ” Lưu Bị – Tôn quyền” Hai quân sư quạt mo Không Minh, Chu Du kích hai bên cho cuộc chiến thêm sôi động. Đúng Sa-tan ma quỷ là cha của nói dối; anh em chúng ta lại tin chuyện huyển hơn là tin nhau.

Thầy Tứ thì vô tư , thầy không biết chuyện gì xãy ra. Thầy Mai thì hàng ngày tưởng tượng đủ mọi chuyện do môn đồ Không Minh sáng tác cung ứng miễn phí cho thầy Mai tức khí chơi. Chúng tôi làm thùng rác nhận chất thải thầy Mai.

Hôm nay, tôi xin làm chứng nhân cho thầy Tứ : ” trước Chúa tôi nói lên đây hoàn toàn sự thật, chịu trách nhiệm lời chứng này- thầy Tứ không làm Antent để hại thầy Mai biệt giam. Thầy Mai vu oan và đã xúc phạm danh dự thầy Tứ; việc thầy Mai bị biệt giam 2 lịnh 15 ngày là do thầy gởi thư lậu cho một phạm nhân mãn án” .

Chúng ta cầu nguyện để thầy Mai có lòng ăn năn, xin lỗi thầy Tứ ; đính chính các nơi về việc này. Tôi sẽ làm chứng nhân, ngoài ra còn thầy Phụng , thầy H oanh , H hát đang ở Đà lạt cùng biết rõ.

Khoản 3 tháng sau, tam sư quyết đấu được trả tự do trước; chúng tôi ở lại yêu thương nhau, đùm bọc nhau , sống với nhau thật nhẹ nhàn khác thường. Đúng như tục ngữ dân gian :” Cha mẹ đánh  nhau, con cái lãnh đủ ”

Lao động khổ sai, vai u chân cứng

Bất cứ loại tù nào khi nghe đến Tống lê Chân đều có suy nghĩ ” Mãn phần trước mãn án”. Họ muốn cải tạo chúng tôi bằng lao động khổ sai, và dùng tù hình sự dợt cho chúng tôi lễ độ. Hoặc sỹ nhục bằng cách cho làm Ô-sin nấu nước pha trà cán bộ chơi.

Chúng tôi học gương Phao-lô đã chấp nhận tù vì danh Chúa, thì phải chịu đựng  khổ sai cho Pha-ra-ôn; không và không bao giờ chấp nhận” hàng thần lơ láo Từ Hải”.

Quý vị cứ tưởng tượng, trời Tống lê Chân mùa hè nắng cháy da người; một giờ trưa ra công trường lao động. Một đội khoản 30 người, dụng cụ lao động chỉ có giáo mác, cuốc xẽn; mà phải khai hoan xong một mẫu rừng hoang.

Khoản 3 giờ rưởi về trại, phải mang 7 cái cuốc 10 kg, đi bộ 7 km, tốc độ 5 km/giờ. Nhiều lần vác không nỗi, phải nhờ anh em giúp trả tiền . Chịu hết nỗi, Ước mong về với Chúa ngay ” để khỏi vất vả”.

Thời gian rồi cứ dần trôi, cuộc sống lao động khổ sai thì một ngày như mọi ngày, con người như người mọi. Lao nhục khổ hình từ từ cũng quen.

Bốn tháng trôi qua, tôi cùng 2 anh em tù chính trị chống chế độ từ Thái lan vào. Chúng tôi làm một dàn mướp bên góc vườn, chiều lao động về, chúng tôi cùng anh Đà ra nấu trà rồi đàm đạo Phúc âm. Phải giảng chay không có kinh thánh. Anh Đà nghe mê say, cũng là niềm an ủi cho tôi. Tháng sau, chuẫn bị làm báp-tem cho anh.

Báp-tem trước mặt ban quản giáo và 400 tù nhân

Trước khi vào tù, tôi nghe các tôi tớ Chúa làm báp-tem cho ông Trung tướng Nguyễn hữu Có trong tù, bằng cách khi xuống giếng làm luôn chỉ có hai người biết.

Chúa cho tôi một sáng kiến, làm báp-tem giữa thanh thiên bạch nhật mà chẳng ai biết mình làm gì?

Tôi bảo anh Đà, cùng bơi ra ngoài ao ( trước khi vào trài, tù nhân được tắm một ao lớn) . Tôi nhân danh Cha-Con-Thánh linh làm báp-tem cho anh; anh Amen. Xong hai chúng tôi cùng lặng xuống nước rồi bơi vào bờ.

Tôi bị bỏ sót

Sau khi ba  mục sư : Mai- Tứ – Ái được  trả tự do , như gánh nặng đã văng khỏi 5 anh em chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu sống chung chan hòa của tình yêu Cơ-đốc chân thật. Ngày thăm nuôi có bửa ăn chung, chia sẽ từng gói mì tôm, từng con khô thật ấm cúng.  Tam quốc sư diển tập đã đến hồi kết.

Sáng chủ nhật lao động khổ sai

Thường ngày Chúa nhật toàn trại được nghỉ lao động, chờ thăm nuôi. Không gì vui được gặp gia đình lại được đồ ăn tươi . Tôi không may, bị đi làm lao động công ích cho cán bộ quản giáo. Tôi cùng một người tù chính trị nhổ cỏ lúa cho một quản giáo. Đến 10 giờ sáng, nhìn ra ngoài thấy từng đoàn người thăm nuôi với từng bao đồ ăn. Nước mắt tôi tự nhiên chảy thành dòng; tôi nhớ lại Thi thiên 42

” 3 Đương khi người ta hằng hỏi tôi: Đức Chúa Trời ngươi đâu?

Thì nước mắt làm đồ ăn tôi ngày và đêm.

4 Xưa tôi đi cùng đoàn chúng,

Dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời,

Có tiếng reo mừng và khen ngợi…

Một đoàn đông giữ lễ;

Rày tôi nhớ lại điều ấy, và lòng buồn thảm ”

Tôi nhớ vợ, nhớ anh em, nhớ buổi nhóm , nhớ đủ thứ… giờ không có thăm nuôi, không được nghỉ ngơi giản xả , lải phải lao động khổ sai , bửa cơm trưa chỉ có 2 chén nhỏ cùng con khô với mấy cọng rau rừng… lòng nặng trỉu nước mắt tuông lúc nào không hay.

Vợ tôi cũng chịu tù như tôi : gia đình hai bên xấu hỗ

Tôi là lao động chính trong gia đình. bây giờ vợ tôi tự lo bản thân , lại phải thăm nuôi tôi hàng tháng. Gia đình hai bên thì không ai ua tôi.

Bên vợ thì theo Đa hệ phái , chính là CM&A; họ xem tôi là thày lay, tự dấy lên thích làm đầu, không thích tư gia. CM&A thì nói chúng tôi là tà giáo.

Vợ tôi bán áo quần ở lầu 2 chợ Tân bình . Vốn không có, hàng lại cũ, không cạnh tranh được . Vợ tôi đến người chi Hai , chi ruột bên vợ mượn một chỉ vàng làm vốn. Chỉ trả lời ” mầy mượn lấy gì mà trả”. Mầy ra làm thuê cho tau.

Vợ tôi về chỉ ôm mặt khóc ròng với Chúa… Nhưng nghèo quá, lại phải thăm nuôi , đành chấp nhận làm Ô-sin cho Pha-ra-ôn thời đại.

Đồ thăm nuôi tôi như thế nào, thì vợ tôi ăn như thế đó. Chủ yếu là mắm ruốt kho mặn với thịt ba rọi hay có cờ; ra muốn mì tôm.

Hàng ngày vợ tôi phải ra tận Q1, làm thuê cho chị Hai. Chị hai và các con chị đối xử với vợ tôi không khác Pha-ra-ôn đối với Y-sơ-ra-en. Nước mắt chồng nước mắt : khóc thì hỗ ngươi, cười ra nước mắt. Chị Hai thì rất hào hiệp với các mục sư truyền đạo; còn chị em ruột , bà muốn cho học bài nhịn nhục để biết trông cây Chúa, đức tin và tình yêu thương của chi Hai vợ tôi thật độc đáo…. cám ơn Chúa vợ tôi chịu đựng được gần 5 tháng với kinh nghiệm cơm trộn nước mắt. Tôi tù kín, vợ tôi tù lõng.

Cám ơn Chúa đã luyện tập vợ chồng tôi bài học đức tin và sự trông cậy; có những lúc trông cây điều không còn cậy trông, nói như Sứ đồ Phi-e-rơ ” Bỏ Ngài con biết theo ai…. Vì Ngài có lời ban sự sống “. Nếu có Đấng nào tốt hơn Chúa, có lẽ chúng ta xét lại hết… vì có những lúc theo Chúa như mĩa mai, trái ngang cuộc đời..

Ngày về không còn chiếc quần

Hơn 7 tháng Tống lê Chân : đau thương tủi hờn đủ bài. Chúa biết sức chịu đựng chúng tôi bao nhiêu !

Trước đó 10 ngày, Công an bộ lên thăm chúng tôi, động viên khi ra khỏi tù thì đừng truyền đạo nữa, khuyến khích chúng tôi viết đơn cám kết bỏ truyền đạo….. Chúng tôi từ chối viết, và sẵn sàng ở tù, không chịu làm kiếp hàng thần Từ Hải.

Đước biết giữa năm 19992, Thủ tướng Nguyễn văn Kiệt trong chuyến công du Châu âu, hội nhân quyền quốc tế can thiệp , ông Kiệt đã chấp nhận thả chúng tôi và một số tù chính trị.

Qua giữa năm 1993, Chủ tịch nước Lê đức Anh ký lịnh,  thả chúng tôi ra vô điều kiện.

Như mọi ngày, chúng tôi ra sân chuẫn bị lao động. Ban giám thị trại cầm một xấp giấy đọc trước mọi người, chúng tôi được thả tự do… Chúa ơi, cảm giác sung sướng không thể mô tả bằng lời… Chỉ biết lớn tiếng cám ơn Chúa, cảm tả Chúa, chúng tôi la lớn , Chúa đã giải cứu …. Anh em tù nhân vào phòng trước chúng tôi , lấy hết vật dụng. Tôi chỉ còn chiếc quần đi lao động.

Sau đó thầy Phụng cho mượn chiếc quần tây  về nhà trả lại…

Hơn 2 năm xa cách thành phố, H oanh, H hat, anh Đà tù chính trị đến nhà tôi; vợ tôi đi vắng, chị tôi tặ tôi một câu : sướng chưa ! ai bảo làm chuyện thày lay… Số tiền , nhà nước cho tiền xe, tôi mời anh em ra ăn cháo lòng hết sạch.

Chúng tôi rủ nhau thăm thầy Mai. Thầy Mai rất vui, cho chúng tôi mỗi người 200 ngàn (gần 1 chỉ vàng).

Tuần sau, chánh văn phong Công an bộ, mời tôi lên đàm đạo theo nghiệp vụ của họ. Anh tiếp tôi tại văn phòng rất lịc sự, mời cà-phê như thượng khách…

Câu hỏi đầu tiên : ” Có nhiều người quan tâm việc nhà nước khoan hồng thả chúng tôi ra không” đặc biệt có giáo sỹ nào thăm hỏi giúp đỡ tài chánh không? Đó là nghiệp vụ họ phải làm thôi.

Tôi trả lời ” cám ơn Đảng đã cho tôi vào tù , giờ chúng tôi thánh nhân vật quan trọng. trước đây tôi chỉ là đất sét, giờ tự nhiên thành ông bụt bất đắc dĩ”. Nhờ vào tù với lao động khổ sai, sức khỏe tôi mạnh lên khác thường. Đúng Chúa cho đi huấn nhục để đủ sức chịu đựng gió sương ” nguy trên sông, biển.. và cả anh em dã dối”.

Tuần sau, con đường xưa em lại phải đi ” tiếp tục lượm ve chai – làm nghề dân biểu ” thăm lại khách hàng bán giây Honda.

Công an lại nghi tôi là một nhân vật nguy hiểm ” nhân vật quan trọng, đóng vai khổ nhục kế ” . Thời đểm này các phong trào chống đối tràng lang; đỉnh điểm của chiến dích ” diển tiến hòa bình” . Họ rất sợ những tu sỹ tôn giáo.

Vô hình dung tôi trở thành VIP bất đắc dĩ, được theo dõi quá kỷ. Thư mời từ tổ dân phố, đến phường, quận , thành phố, cả bộ như ” Đến hẹn lại lên không nhớ hết.. Vừa làm dân biểu cho khách hàng, vừa làm tù tại chỗ có lúc như muốn phản loạn chống lại để vào tù tiếp đỡ căn thẳng.

Khoản đầu năm 1995, Mỹ bỏ cấm vận Việt nam. Tôi vào làm nhâ sự cho nhóm thầy Mai.

Tôi không ngờ, uy thế nhóm thầy lớn như vậy. Nhà nước bắt đầu mở cửa.. phong trào ngũ tuần đang ở đỉnh điểm; từng đoàn, từng đoàn vào Việt nam; thầy Mai giống Hồng Kông là cửa ngõ để vào Trung Hoa lục địa.

Một tuần hai ba đoàn bồi linh; từ Sài-gòn ra Vũng tàu : được học, được ăn uống no nê; xài toàn tiền xanh cứng (100 dolla); các đại lãnh tụ tư gia- tứ đại gia ( Tứ- Mai- Ái- Lạc)  bỗng dưng thành đại gia ” Tư bản trắng”.

Xe thêm xe, nhà thêm nhà; địa phương thêm hội thánh… phục hưng đã đến rồi”. Các hệ phái thi nhau tiếp thị, tranh nau tiếp thị – thị trường Hội thánh tư gia hơn cả chiến trường”. Có lời chúc

” Hoan hô các Đấng con trời

Khi không ông lại lên đời đại gia”

Một doanh nhân ngoại đạo đã nói:”  không kinh doanh nào, không cần vốn, lại siêu lợi nhuận như kinh doanh tôn giáo. Đây cũng là tiền đề cho các cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn sắp diễn ra.” xác chết ở đâu, diều hâu ở đó”

Cuộc chiến Cha con nhà họ Đinh

Thập niên 90 nhìn bề thế Liên Hữu cơ-đốc không thể không giật mình; chưa tới 5 năm số lượng tín đồ và số hội thánh địa phương gần như toàn quốc. Các nhà tài trợ Mỹ quốc nghe ông Tứ và môn đồ ông báo cáo hấp dẫn hơn cả báo chồn, báo mèo; chủ yếu là báo láo. Không biết các ông có ảnh hưởng các quan lại đời nay, cứ nổ để gây ảnh hưởng.

Với bản chất độc tài khôn ngoan học được từ Binh pháp Tôn tử cửa ông Tứ; các môn đệ ông rất thuộc bài, thậm chí muốn hơn cả thầy. Ông bà mình cũng đã nói :” Trâu buộc ghét trau ăn; quan võ ghét quan văn dài quần” . Mọi người đều hy sinh , nhưng vợ chồng ông Tứ thâu góm phần nhiều.

Chiến tranh lạnh ầm ỷ từ lâu, chờ ngày , cơ hội bộc phát.

Giọt nước tràng ly. Có một vợ chồng giáo sỹ nghe ông Tứ hót quá mùi tai; họ dâng 60.000 ngàn Dolla không cần thông qua ban tài chánh. Thế là ông bà Tứ để riêng ngoài sổ.

Trong chuyến trở về nước, vợ chồng giáo sỹ không may máy bay bị nạn qua đời. Ông bà Tứ tưởng đó là ý Chúa cho riêng ông bà. Thế là tủ két nhà ông toan để nhẹm thêm 60.000 ngàn ngon ơ; đầu mối an toàn đã bị bịt.

Mấy năm sau, gia đình giáo sỹ trở lại thăm Liên Hữu cơ-đốc; hỏi thăm số tiền giúp đỡ đó đã làm gì ? tá hỏa ra vợ chồng ông Tứ đã tham nhũng….

Đúng giọt nước tràng ly; thường vụ Liên Hữu,họp kiểm điểm ông Tứ, ông Tứ không chối cải được với bằng chứng rõ ràng.

 

Chúa thật công bình. Tội kín dấu nơi phòng tối , giờ phải ra mái nhà.

Thanh tra tiếp bà Tứ, đương kim trưởng ban thanh thiếu niên toàn quốc, tài chánh lại lem nhem, không thua gì chồng.

Kết thúc :” hơn 2/3 thường vụ bất tín nhiệm chức Tổng quản nhiệm ông Tứ; cách chức luôn cả bà Tứ.

Người đứng đầu Phạm đình Nhẫn, trước đây lang thang cơ nhở , sửa dày dép bên vệ hè Nguyễn thiện Thuật.  Ông Tứ đã mang về, chăm sóc,   giáo huấn như học trò cưng; tưởng như người nhà.

Người kế tiếp, quân sư quạt mo : Trần quang Tuấn, một tay lý luận hùng biện xuất thân từ trường Tây học .

Ông Tứ không chấp hành, dùng đụ mọi thủ đoạn theo kiểu ” Binh pháp Tôn tử – Khổng Minh – Tào Tháo ” đối phó.

Chiến trận giằn co, phe đảo chánh thắng thế. Lợi thế thủ quỷ đứng phía mình. Tất cả đồng lòng ôm hết tài sản : Tiền bạc, xe pháo, đất đai…nghe ống Tứ nói gần 5 tỷ thời 1997  ” làm Tám Khỏe tuyên bố ly khai, lập Hội thánh mới, lúc đầu lấy tên Hội thánh Chúa hay đấng Christ gì đó.

Chưa dừng ở đó, nhóm đảo còn tung lên mạng một bản cáo trạng dài với đầy đủ tội ác ông bà Tứ.

Phe cách mạng đã toàn thắng, thắng lợi từ nhân sự, tiền bạc đến uy tín…. Ông Tứ chỉ biết ôm mối hận ngàn thu, qua đêm tóc thêm bạc, thật đáng thương như  Ca thương.

Chúa quá công bình, gieo thì phải gặt. Nhóm đảo chánh sau này hơn cả ngón tay út cha mình. Nước Y-sơ-ra-en Liên hữu thành riêng hữu cơ-đồ. Mỗi người hùng cứ một phương, chờ ngày phục hận. Nhóm sau học kinh nghiệm nhóm trước, cứ thế giáo phái mới thi nhau đua nở.

Nếu chọn một sự nỗi bật nhất trong thập niên 90 của hội thánh tư gia; không ai trỗi hơn Liên Hữu cơ-đốc của muc sư Đinh thiên Tứ. càng nỗi tiếng thì càng tai tiếng; Sự kiện nội bộ đấu đá, vạch lá cho người xem sẹo là một sự tổn thương lớn cho Chúa, và cho các hội thánh tư gia như một huyền thoại. Sê-sa vỗ tay reo mừng, CM&A thừa cơ thêm mắm thêm muối đủ kiểu bôi bát để giữ tín đồ….họ đã hù dọa tư gia là tà giáo, như Công giáo La-mã gọi phe cải chánh là đạo rối….

Các nhóm khác cũng lấy đó như một tiền đề, cho các cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền giáo quyền tôn giáo. Thập niên 90 là nền tảng cho thập nhị bách gia sứ quân Hội thánh tư gia Việt nam. Ngủ đêm thức dậy thấy hai,  ba tổng quản nhiệm ra đời. Chính quyền cũng không hiểu nỗi ; không ai hiểu hết, chỉ có người đủa tiền và kẻ nhận hiểu được khải tượng (thấy voi) quái chiêu này thôi.

Thập niên 90 đất nươc trãi qua một thời kỳ nghiêm trọng. Đông âu, Liên sô tan rả. Chính quyền Việt nam đứng trước nguy cơ sụp bất cứ khi nào ! Nhà cầm quyền cọng sản rối ren, nội bộ chia rẽ mất phương hướng; bất đắc dĩ phải trở về với chồng cũ quái ác Trung cọng với hiệp ước Thành Đô 1991.  Các phong trào diễn tiến hòa bình cũng được lợi thế,  tác nước theo mưa. Nhà tù không còn chổ chứa. Người ngoài tù thì thích thần Kim Quy (Quy Mã).

Một sự kiện vô cùng tác động từ chính trị đến tin lành đó là ngày 7 tháng 7 năm 1995 Tổng thống Bill Clington Hoa Kỳ bỏ cấm vận nối lại ban giao. Các Giáo chủ mọi hệ phái đua nhau tìm thị trường mới nỗi Việt nam. gần 40 hệ phái đã hiện diện dưới sự cấm đoán bắt bớ khốc liệt của nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền rất sợ người Tin lành, tuy không tham gia trực tiếp chống cọng, nhưng khi ai tin Chúa rồi, thì không còn nghe theo kiểu tuyên truyền một chiều của đảng nữa. Công an tâm sự người tin lành rất tốt; nhưng các ông dành dân, lấn đất với Đảng. Đó là lý do Đảng cọng sản không thể đi chung đường với Tin lành.

Tin lành là đại biểu cho dân chủ; dân chủ nên thân Mỹ; đối nghịch là độc tài Công giáo La-mã và CM&A, giống cọng sản.

Tóm lại , sự kiện Tuy lý Vương mục sư Đinh thiên Tứ bị Tông liên CM&A dứt phép thông công 1989 là giọt nước tràng ly cho phong trào tư gia. Năm 1990 là trung tâm cơn bảo phong trào tư gia xuất phát từ Hội thánh trương Minh Giảng mục sư Trần Mai. Hệ quả từ chính quyền đến giáo quyền CM&A khủng hoảng, tìm mọi cách ngăn chặng. Nhưng đây là phong trào Thánh linh quyền năng, Phong trào ngũ tuần sinh động với nhiều dấu kỳ phép lạ; Ngài thổi bay mọi bảo thủ, độc tài cố chấp, rác rưởi, thối tha, mang lại một sinh khí dân chủ tự do cho con dân Chúa. Gần 1.500.000 người trở lại Phúc âm; một điểm son không chối cải được của phong trào tư gia.

Một sự kiện đặ trưng nũa là Hiệp hội Thông công F1 và F2 ra đời.

Xin xem phần riêng

 

 

 

 

 

V . Chuyện Tam quốc Chí ” Tống-lê-Chân”

VI . Được trả tự do vô điều kiện

VII. Con đường xưa em lại phải đi ” Ve chai trở về ve chai”

VIII. Trở lại Hội chúng địa phương

IX . Xin làm Tám khỏe ” người nội ô” đầu quân Thầy Mai

X. Lại tiếp tục làm người cô đơn.

( còn tiếp)

 

 

 

 

 

 

Comments

No comments yet.

Nickname:
E-mail:
Homepage:
Comment:
 Add your comment 

Count per Day
  • 66390Total reads:
  • 31526Total visitors:
  • 49Visitors per day:
More in LÀM CHỨNG, NGHIÊN CỨU, TIN TỨC (97 of 136 articles)
Simple-Church-Gathering2


   4/  Nhóm Ngũ tuầnTrương minh Giảng: Mục sư Trần Mai 1990  - Giáo sĩ Cốt-na ngũ tuần Pháp Sự ...